GTS THÁNG 10 - HÃY BIẾT YÊU THƯƠNG MẸ
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Viet Nam su luoc

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thu Trang
Ngày gửi: 20h:17' 16-10-2025
Dung lượng: 614.6 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thu Trang
Ngày gửi: 20h:17' 16-10-2025
Dung lượng: 614.6 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Nam Việt Lược Sử
Thể loại: History
Tác Giả: Nguyễn Văn Mai
Nhà xuất bản Sài Gòn -1919
Biên tập Ebook: http://www.SachMoi.net
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và Nhà
Xuất Bản
TIỂU DẪN
I- Sử: Sử là truyện tích xưa, chỉ dẫn cội rễ một nước, một loại dân chép những sự tân
hóa, những lúc hưng vong, trị loạn, những thói tục, đạo đức cùng sự giao thiệp với
ngoại bang. Lấy xưa mà sánh nay, lấy lành mà răn dữ, sử cũng là gương soi mình cho
các đấng cầm quyền trị nước và nhân dân vậy: vua chúa xem lấy mà tu cang kí, nhơn
dân đọc lấy mà sửa tề gia.
II- Đời sơ nguyên: Sự văn minh hóa của một nước khởi từ khi bày ra chữ nghĩa, nhất
là từ khi tìm đặng phép in sách vở mà lưu truyền đến sau. Có sách vở mới tri nguyên
những sự tích xưa mới lập thành chánh sử được.
Phàm sử ký nước nào cũng vậy, cũng chia ra làm hai đời phân biệt: đời thượng cổ - là
đời u minh chưa có sử và đời chánh sử - là đời đã có chữ nghĩa văn minh. Những
truyện xứ ta trong thời thượng cổ, từ nhà Hồng bang cho đến nội thuộc Trung nguyên
thì chép y theo sử Tầu. Phần nhiều là những điều truyền khẩu, nhưng sự phi thường
không đáng tin, vì không có đủ bằng cớ mà kê cứu. Nước Nam có chính sử là kể từ
năm 111, trước Chúa giáng sinh, Tầu mới qua chiếm trị, bắt người Nam học chữ Nho,
theo đạo nho.
III- Dòng giống người Annam: Người Annam cũng thuộc một chi với người Tầu và
người Nhật bản, gốc bên Tây tạng (Thibet) mà ra. Lúc ban sơ mới lìa chi thì lần qua
phía Đông, nơi tỉnh Vân nam, Quảng tây, Quảng đông bây giờ. Đụng người Trung
nguyên không chống cự nổi, mới dồn xuống phía nam, nơi xứ Bắc kỳ, thì lại gặp dân
bổn thổ: Lào, Lâm ấp, Chiêm thành (Ciampois), Chân lạp (Cambodgiens). Khi đó
phải tranh phong với những dân ấy đã nhiều trận, đã lâu đời, mới lấy đặng nước
chúng nó, rồi cũng có ăn chung lộn với nhau mà nối sanh ra, thì dòng giống người
Nam lai lần đầu.
Đến sau hết từ đời Tây hán, vua Hiếu võ đế nước Nam bị Trung nguyên chế phục (111
trước chúa giáng sinh). Người Tầu mới sang qua mà lập nghiệp, kết bạn cùng đàn bà
xứ ta mà sinh sản ra thì cái cốt cách nguyên sơ của người Nam lại đổi khác nữa, nhưng
mà chưa có lạc mất.
III- Đạo của dân Annam: bên Trung nguyên từ đời Tam hoàng, Ngũ đế cho tới Hạ,
Thượng, Châu, chỉ lấy đạo Trời Đất làm gốc. Thiên tử thì tế Giao, tế Xã là tế Trời Đất;
chư hâu tế Sơn Xuyên là tế thần núi song, công khanh tế thần Hậu thổ, thần Đất đai.
Còn sĩ thứ tế tổ tiên ông bà qua vãng.
Đời Châu định vương (606 – 585) trước chúa giáng sinh, lão đa, xuất thế (604 – 500)
bầy ra đạo đức kinh. Từ ấy mới có đạo Lão tử.
Đời Châu linh vương (571 – 544) trước chúa giáng sinh, đức Khổng tử (550 – 480)
truyền đạo Nho, dạy cang thường luân lý.
Đến năm 207 trước công nguyên, nhằm đời Tây hán, vua Cao tổ đạo Phật bên xứ
Thiên trúc đã sang qua Trung nguyên. Đời Tây Hán vua Hiếu minh đế (58 – 76) sau
chúa giáng sinh, sai người qua thiên trúc mà rước thầy sãi và thỉnh kinh Phật.
Đạo Lão tử, đạo Nho, đạo Phật kêu là Tam giáo, dân Tầu cũng kính thờ hết cả ba.
Sử nước Nam, đời sơ nguyên chép rằng: nhà Hồng bang là dòng dõi Thần nông. Vậy
thì lúc xưa ta cũng giữ đạo thời Trời đất và ông bà. Sau nước nam bị Trung quốc
chiếm trị, thì người Nam cũng theo Tam giáo như người Tầu vậy, duy lấy sự phụng tự
nhiên làm gốc.
V- Sử nước nam: nước Nam có quốc sử kể từ đời Trần Thánh Tông (1258 – 1279).
Ông Lê Văn Hưu phụng lệnh soạn thành bộ Đại việt sử ký, khởi từ Triệu võ Vương
cho đến Lý Chiêu Hoàng thì dứt. Sau mới chép với tới Hồng bàng thị.
Phép lu sử thì dẫn những việc các dòng vua trước chớ không nói về dòng vua đương
trị vì nhà sử quản biên những điều đại khái các đời vua ấy mà để có nơi, qua họ khác
lên cầm quyền thì mới lấy ra mà viết nối theo, lần lần như vậy mới tư thành quốc sử.
Sử Nam cũng như sử Tầu còn sơ lược, chỉ chép giặc giã nhắc chuyện nhà vua, còn sự
văn minh lấn hóa, việc nông cơ, kỹ nghệ, đạo đức, cách ăn thói ở của dân và đều quí
trọng hơn hết là sự học hành thì phớt qua mà thôi, cũng có khi không nói đến. Muốn
hiểu rõ sự tích nước mình thì phải xem mấy pho sử của người Lãng sa soạn ra, ngặt
phần nhiều dân Nam không thông chữ Pháp.
Bổn sử tôi soạn ra đây dẫn giải tuy là đại lược nhưng mà do theo chương trình mới về
bậc Sơ học thì cũng đủ cho con nhà Nam đọc lấy cho rõ cội nguồn rễ xứ mình.
Những sự tích đem vào sách nầy, nhất là từ nhà Nguyễn tới sau, đã có tra sát trước
trong mấy quyển sử chữ Tây.
Sau rốt tôi có đính thêm bản kể các đời vua Annam, đối với các đời vua Tầu và Lãng
sa, từ sơ nguyên cho đến bây giờ, trước là để phụ ích cho sách nầy, sau nữa là giúp kẻ
nào hay nghiệm xưa nay khỏi nhọc công tìm thêm.
Vĩnh hội – Aoril 1919
NGUYỄN VĂN MAI
NAM VIỆT LƯỢC SỬ
CHƯƠNG I: ĐỜI SƠ NGUYÊN TỚI NĂM 968 (SAU
GIÁNG SINH).
I. Nhà Hồng bàng
20 đời vua, trị 2647 năm (2874 – 257, trước giáng sinh)
1- Kinh Dương Vương: vua này là con vua Đế minh, chắt vua Thần nông bên Trung
quốc, lên ngôi năm 2874, đặt niên hiệu là Kinh Dương Vương. Nước Nam khi ấy kêu
là Xích Qùi, phía Bắc giáp tỉnh Quảng tây, phía Đông giáp Nam hải, phía Tây giáp
nước Thục (tỉnh Cao bằng), phía Nam giáp xứ Chiêm thành (Ciampa)
2- Lạc Long Quân: con vua Kinh dương Vương tên là Lạc Long Quân, Lạc Long Quân
truyền ngôi lại cho con trưởng nam là Hùng vương thứ nhất. Kể từ đây những kế vị
đều lấy hiệu Hùng vương cho đến đời Hùng vương thứ 18 (257) trước giáng sinh thì
mất nước.
3- Hùng vương thứ nhất: Vua này cải tên nước lại là Văn Lang, chia làm 15 quận:
- Văn lang (đế đô)
- Giao chỉ (Hà nội, Hưng yên, Nam định)
- Châu diễn (Sơn tây)
- Võ ninh (Bắc ninh)
- Phước lộc (Sơn tây)
- Việt thường (Quảng bình, Quảng trị)
- Ninh hải (Quảng yên)
- Dương tuyên (Hải dương)
- Lục hải (Lạng sơn)
- Võ định (Thái nguyên, Cao bằng)
- Hoài hoan (Nghệ an, Hà tĩnh)
- Bình giao….
- Tân hung (Hưng hóa, Tuyên quang)
- Cử đức
Sự giao tiệp với nước Tầu
Năm 110 trước giáng sinh, bên Tầu nhằm vua Thành vương, chà Châu, vua Annam
sai sứ qua cống bạch trĩ. Lúc trở về ông Châu công Đáng là chú vua, sợ sứ đi lạc
đường, bèn dạy đóng một cỗ xa, có để cái địa bàn chỉ hướng nam cho sứ.
Sự giao thiệp và tận cống với nước Tầu là kể từ đời này.
Tích vẽ mình
Đời Hùng vương thứ nhất bày ra thủ tục vẽ mình là vì dân sự đi làm nghề chai lưới,
thường bị những loài thủy tộc phá hoại. Vẽ mình ra có rắn rực, thì rắn rít, sâu, cá,
tưởng là đồng loại với nó mà không động đến.
Tục vẽ mình xâm mình đến nay hãy còn nơi các mán mọi, như Mường, ở Tonkin,
Kha, ở Lào.
Cũng như đời vua Hùng vương này bầy ra đóng ghe có vẽ con mắt hình như cá.
Tích bão lụt xứ Bắc
Vua Hùng vương thứ 18 có một đứa con gái dung nhan đẹp đẽ. Vua nhà Thục đã nghe
phen cậy người đi nói cho thái tử, mà vua Hùng vương không chịu gả. Ngày kia có hai
người trai tới xin làm rể. Vua phán rằng: trẫm vốn có một đứa con, không lẽ đưa cho
hai người. Như rạng sáng mai ai đem sính lễ tới đủ thì trẫm sẽ gả cho.
Sơn tinh đến trước, cưới được công chúa, đem lên núi Tản viên (Tonkin). Thủy tinh
chậm bước hụt vợ, nên oán hận, làm dông gió bão lụt đặng hại Sơn tinh, mà không
làm chi nổi.
Bởi vậy, hễ khi nào có bão lụt, thì những người hay tin dị đoan thường nói rằng lại là
sự cừu ấy mà ra.
Hùng vương thứ 18: Vua này hoang dâm vô độ, không lo việc quốc chính, lại gây họa
cho nước nhà, là vì không khứng gả công chúa cho tháu tử nước Thục. Vua nước
Thục, tên Phán dấy binh đánh gấp, vua Hùng vương tính bề cự không nổi, bèn tự vẫn
mà chết, hết đời Hồng bàng, truyền qua đời Thục.
II. Nhà Thục
1 đời vua, trị 50 năm (257 -207) trước giáng sinh.
Cháu nội vua nước Thục, tên là Phán, lấy đặng nước Văn lang của Hùng vương, bèn
sát nhập với nước mình là Âu lạc, kêu là Âu việt, lên ngôi xưng là An dương Vương ,
trị đặng 50 năm. Vua này không có con trai, có một người con gái gả cho con Triệu
Đà. Sau bị triệu đà dụng quỉ kế lấy đặng nước dựng nên nhà Triệu.
Nguyên nước Âu việt ở giáp cương giới với nước Tầu, có nhiều thứ thổ sản quí lạ, nên
ghe phen Trung quốc muốn chiếm đoạt. Tần thủy Hoàng (246 – 209) trước giáng sinh,
sai hai tướng Nhâm Ngao và Triệu đà qua đánh Âu việt. Đánh đã lâu mà lấy không
được. Kế Tần Thủy Hoàng băng, Nhâm Ngao qua đời còn một mình Triệu đà cô thế,
cứ giữ xứ Lãnh nam (phía bắc nước Âu việt)
Triệu đà thừa lúc loạn Trung nguyên , nhà Tần mất, tính lập một cõi riêng, bèn giao
lân cùng vua An Dương Vương cưới công chúa cho con. Sau đặng binh ròng tướng
mạnh, trở lại đánh vua An dương Vương mà lấy nước, lập nên đời nhà Triệu.
III. Nhà Triệu.
5 đời vua trị 96 năm (207 – 111) trước giáng sanh.
1- Triệu võ đế (207 – 136) Triệu Đà lấy đặng nước Âu việt, sát nhập với nước mình,
kêu là Việt nam, rồi lên làm vua hiệu là Triệu võ đế, đóng đô tại Phiên ngu (tỉnh
Quảng đông). Lúc nầy bên Trung quốc, Lưu Bang diệt Hạng Võ lập nên đời Tây Hán.
Hán cao tổ sai Lục Giả qua Việt nam phong tước cho Triệu Đà. Từ khi ấy nước Nam
cứ giữ đạo chư hầu, thường năm dâng cống cho nhà Hán.
Hán cao tổ băng (194), Lữ Hậu phế Huệ đế lên tiếm ngôi, bèn cấm người Trung quốc
không cho bán đồ khí cụ cho Annam. Triệu võ đế giận cử binh đánh lấy nước Trường
sa, là nước chư hầu của Trung quốc rồi xưng đế như vua Trung nguyên vậy.
Lữ hậu mất Hiếu văn đế lên ngôi, sai Lục Giả qua giải hòa với Triệu Đà. Từ đấy nước
Nam qui phục lại nước Tầu như xưa.
2- Triệu văn vương (136 – 121) Hồ lên ngôi xưng là Triệu văn vương. Vua này tính
không ưa giặc giã. Lúc người trị vì, có nước Mân việt là nước chư hầu của Trung
quốc, qua xâm phạm cõi Nam. Vua sai sứ đi viện binh nhà Hán dẹp đặng giặc rồi cho
con trưởng nam là Anh tế qua ở làm con tin triều Hán.
3- Triệu minh vương (124 – 113) Anh Tề lên ngôi, xưng hiệu là Triệu minh vương, trị
nước được 11 năm. Lúc Anh Tề qua làm con tin bên nhà Hán, thì có cưới một người
vợ Trung nguyên tên là Cù thị, sanh đặng một đứa con trai kêu là Hưng. Anh Tề
phong Cù thị làm hoàng hậu, Hưng làm thái tử, phế con của người vợ Annam khi
trước là cho đình thần bất bình.
4- Triệu ai vương (113 – 111) Hưng lên nối nghiệp cha, xưng hiệu là Triệu ai vương ở
ngôi đặng ít năm, kế nhà Hán sai sứ qua đòi vua và mẹ con hầu ngự giá, thì trong
nước bọn đình thần có ông Lữ gia nới rằng: vua và hoàng thái hậu âm mưu mãi quốc,
bèn khiến dân dậy lên bắt giết cả hai người rồi tôn con người vợ Annam lên ngôi, hiệu
là Thuật dương vương.
5- Thuật Dương vương (111) vua này ở ngôi chưa đầy một năm, kế bên triều Hán, vua
Hiếu võ đế cử binh qua lấy nước mà sáp nhập về Trung nguyên.
IV. Thuộc Trung nguyên lần thứ nhất
Năm 150 – 111 trước giáng sinh – 39 sau giáng sanh
Năm 1 Chúa giáng sinh, nhằm đời Hiếu ai đế (Tây hán - kể từ đây về sau là đời Thiên
chúa.
Triều Tây hán sai quan Tầu qua cai trị chia nước Nam là 9 quận:
- Nam Hải (Quảng đông)
- Thương ngô (Quảng tây)
- Uất lâm (Quảng tây)
- Hiệp phò (Quảng đông)
- Giao chỉ (Quảng tây)
- Cửu chân (Quảng tây)
- Nhựt nam (Tonkin)
- Châu nhai (Cù lao, Hải nam)
- Thiên nhĩ (Cù là gần Hải nam)
Trong bọn quan Tầu qua cai trị nước Nam có 2 người: Tích quang và Nhâm Diên hay
lo lắng cho dân. Tích Quang thì dậy dân học chữ nghĩa cùng đạo lý đức Khổng tử,
Nhâm Diên dậy dân vỡ đất làm ruộng, trồng dâu nuôi tằm. Còn những quan khác hay
tham ô, làm nhiều điều khắc bạc, nên thường gây ra loạn lạc.
Năm 39 sau công nguyên, nơi quận Giao chỉ có một người đàn bà tên là Trưng trắc
khiến dân dấy lên, bắt thái thú Tô Định giết đi mà báo cừu cho chồng, rồi thâu cả
nước Nam lên làm vua được 3 năm.
V. Trưng nữ vương (39 – 42)
Trưng Trắc lên ngôi đặng vài năm, kế bên Trung nguyên, triều Đông Hán, vua Quan
Võ sai Mã Viện qua bình phục Giao chỉ. Ban đầu đánh nhau cầm cự, chưa biết hơn
thua. Sau binh Giao chỉ vẫn không thiện nghề chinh chiến, bèn đỏ lần hết, Trứng Trắc
và em là Trưng Nhị thế cùng nên phải tự vẫn cho khỏi bị nhục.
Mã Viện bình Giao chỉ rồi, truyền đúc một cây trụ đồng, trồng tại Khâm châu có khắc:
Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt (Đồng trụ ngã, dân Giao chỉ dứt.)
Từ đây nước Nam phải sát nhập về Trung Nguyên lần thứ hai.
VI. Thuộc trung nguyên lần thứ hai
144 năm (42 – 186)
Sĩ vương 186 – 226 Lúc này bên Trung nguyên nhà Đông Hán hầu dứt, qua Tam quốc
phân tranh. Sĩ nhiếp dùng dịp loạn xưng vương, hiệu là Sĩ vương, trị nước được 40
năm. Nguyên Sĩ nhiếp là người Trung quốc mà tiên nhơn sang ở nước Nam lâu đời,
nên đã thành người Nam.
Sĩ Nhiếp lên ngôi xưng hiệu là Sĩ vương, khai trường dậy chữ nho, dậy phong hóa
Trung quốc. Đời vua này có nhiều người hay chữ không kém chi người Trung
nguyên. Sĩ nhiếp băng, Đông ngô sai tướng là Lữ Đại qua dụ em Sĩ Nhiếp là Sĩ Huy
thần phục nhà Ngô rồi thừa thế mà giết đi. Nước Nam bị sát nhập về Trung nguyên lần
thứ 3.
VII. Thuộc về Trung nguyên lần thứ ba
314 năm (226 – 540)
Từ năm 226 tới 540 nước Nam bị nhà Hậu Hán Ngô, Ngụy (Tam quốc) Tấn Tống Tề
Lương kiềm chế 314 năm.
Những quan Trung Nguyên qua cai trị cõi Nam trong mấy đời ấy thì cũng như các
quan đời trước ít người nhân hậu, nhiều tay tàn bạo. Thuở ấy có xứ Lâm ấp, sau kêu là
Chiêm thành (Ciampa) ở phía nam hay đến đánh phá nước Nam. Đã bao phen bị thua,
bị giết mà không chừa tính hung hăng. Qua đến đời chứa Hiền vương (1649 – 1685)
nhà Nguyễn mới trừ tuyệt.
Nước Nam lúc nầy về nhà Lương chế trị. Quan thái thú Tiêu tư là nhiều điều độc ác,
khiến lòng dân oán hận. Lý Bôn thừa cơ hội cầm binh đánh đuổi quân Trung nguyên
rồi lên ngôi hiệu là Lý Nam đế.
VIII. Nhà tiền Lý
2 đời vua, trị 58 năm (544 – 602)
1- Lý nam đế: 544 0 548 , bốn năm. Lý Bôn vốn là người Trung nguyên, nhân lúc loạn
Tây Hán. Vương Mãng soán ngôi vua Hiếu bình, qua ở ngụ tại Giao châu lâu đời, nên
đã thành người Nam.
Lý Bôn lên ngồi xưng là Lý Nam Đế trị được 4 năm, kế bên Trung nguyên, nhà Lương
sai Trần bá Tiến qua đánh Nam việt, Lý Nam Đế yếu thế bèn giao quyền cho tướng
quân Triệu Quang Phục, cách ít năm thọ bệnh mà băng.
2- Triệu Việt Vương 549 – 570, 24 năm. Triệu Quang Phục cầm binh đánh với quân
Tầu đã lâu. Sau binh Trần bá Tiên đổ lần, rồi rút về Trung nguyên hết. Triệu Quang
Phục lên ngôi hiệu là Triệu Việt Vương, trị được 21 năm rồi truyền lại cho Lý phật Tử,
là dòng dõi tôn thất nhà Lý.
3- Lý Phật Tử, 570 502, 32 năm. Lúc này Trung Nguyên nhắm nhà nhà Tùy. Tùy
dương Kiên sai Lưu Phương sang đánh Nam Việt. Lý Phật Tử sợ, bèn xin qui hàng. Từ
đây nước Nam bị Trung nguyên kiềm chế lần thứ 4.
IX. Thuộc trung nguyên lần thứ 4.
Từ năm 603 – 939 bên Trung nguyên nhằm đời Tùy, Đường, Ngũ đại.
Vua nhà Tùy nghe nói bên cõi Nam, nơi xứ Lâm ấp có nhiều vật quí lạ, nên sai Lưu
Phương qua một lần nữa mà cướp phá, vua Lâm ấp là Phạm phàn Chi chống cự không
nổi, quân Trung nguyên đoạt được kinh thành Lâm ấp, cướp giật của cải, còn Lưu
Phương thì lấy vàng ngọc rất nhiều. Nhưng mà lúc trở về, binh chết hết ba phần, Lưu
Phương cũng bỏ mình.
Nhà Tùy mất (617), nhà Đường dấy (618) vua Đường cảo tổ cải nước Nam Việt lại
thành Annam đô hộ phủ, chia làm 13 châu.
Nước Annam khi ấy, kể từ Bắc kỳ cho tới tỉnh Quảng Nam. Trên phía Tây bắc là nước
nam chiều (tỉnh Vân nam) phía Tây là nước Lào, phía Nam là nước Chân lạp (Cao
man) còn nước Lâm ấp (Chiêm thành) ở từ quận Nhật nam cho tới ranh chơn lạp.
Nhà Đường cai trị nước Nam. Đường cao tổ lên ngôi Trung nguyên năm 618. Việc cai
trị xứ Annam lúc bấy giờ cũng như các đời vua trước: trên hết thị đặt một quan Thứ
sử, gồm hay cả xứ thuộc địa, dưới thì mỗi châu có một thái thú cai trị. Những viên
quan phần nhiều là người Tầu, tính tham lam độc ác lại quá hơn khi trước.
Dân An Nam bị sưu cao thuế nặng đã ghe phen muốn khởi loạn, mà không thành sự.
Có quan thái thú Lý Trắc làm khổ các mán mọi, nên gây họa., Các mán mọi hiệp với
nước Nam chiếu tới cướp phá đuổi người Tầu, thâu được nước Nam. Sau nhà Đường
sai Cao Biền bình định trong 10 năm mới yên. Cách ít lâu binh Nam chiều kéo đến
một lần nữa. Nhà Đường dụng kế đưa công chúa cho vua Nam chiếu. Vua Nam chiếu
ngờ là thiệt, bèn sai ba viên danh tướng đi đón rước, thì cả ba điều bị thuốc độc mà
thác, từ ấy nước Nam mới yên đặng một khoản.
Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ: Nhà Đường suy, sang đời Ngũ đại (907 – 957), là hậu
Lương, hậu Đường, hầu Tấn, hậu Hán, Hậu châu.
Nhà hậu Lương phong Lưu Ấn làm Nam bình vương, đóng đô tại Phiên ngu, phong
Khúc Hạo là Thái thú Giao châu (An nam).
Lưu Ấn qua đời , em là Lưu Nghiêm lên thế vị xưng là hoàng đế Nam hán (917)
Khúc Hạo mất, em là Khúc Thừa Mỹ vâng mạng vua hậu Luong, gồm trị cả 12 châu
xứ Nam. Cách ít lâu vua Nam Hán khởi binh đánh bắt Khúc Thừa Mỹ. Dương Đình
Nghệ cầm binh đuổi quân Nam hán, rồi lại bị Kiều công Tiện là tướng của mình âm
mưu giết đi.
Khi ấy có Ngô Quyền, gốc là người An Nam cũng là tướng của Dương Đình Nghệ ra
chống cự, thắng được Kiều Công |Tiện, sau lập nên nhà tiền Ngô, làm vua được 5 đời
trị được 30 năm.
X. Nhà tiền Ngô
5 đời vua, trị 30 năm 939 – 968
Ngô Quyền làm vua được 5 năm 939 - 941 thì băng, truyền ngôi lại cho con là Xương
Ngập, khi ấy còn nhỏ. Dương Tam Ca là cầu lên làm phụ chánh, rồi dùng dịp mà đoạt
ngộ, xưng Bình vương 945 – 949. Sau bị Xương Văn là con thứ Ngô Quyền giành lại à
cai trị, rồi truyền cho Xương Xí.
Lúc này nước An Nam chia làm 12 châu, mỗi châu có một sứ quân, mỗi sứ quân thì
xưng vương một cõi, mạnh lẫn yếu, loạn lạc cả năm. Hậu Ngô vương là Xương Xí
cũng trấn một quận, không làm gì nổi mấy sứ quân khác, tuy là khỏi làm tôi mọi
Trung nguyên, chứ người Nam chưa dựng được nền độc lập. Sau đó có một người họ
Đinh dấy lên dẹp 12 sứ quân, lập nên đời chính thống.
CHƯƠNG II: ĐỜI CHÍNH THỐNG.
I. Nhà Đinh
2 đời vua trị được 13 năm 968 – 981
1. Đinh Tiên Hoàng: 968 – 980, 12 năm. Người dẹp yên 12 sứ quân ấy là Đinh Bộ
Lĩnh, quê ở Hoa lư ( tỉnh Ninh Bình), vố là con của Đinh Công Trứ, làm thái thú châu
Hoan khi trước. Cha mẹ mất sớm, Đinh Bộ Lĩnh ở làm thỉ hạ với sứ quân Trần minh
Công quận Bố chính. Trần minh Công qua đời, Đinh Bộ Lĩnh bèn chiêu tụ anh hùng,
rồi cử binh đánh đuổi các sứ quân.
Năm 968, người lên ngôi xưng hiệu là Đinh Tiên Hoàng, cải nước Nam là Đại Cồ Việt.
Phong cho Lê Hoàn là tôi công thần làm chức Thập đạo tướng quân. Vua này bề luật
rất nghiêm, trước sân chầu có để vạc dầu sôi, có nhốt thú dữ, mà răn dân sự cho
chúng nó bỏ thói hung hăng theo đời 12 sứ quân. Vua lại tu chỉnh việc binh nhung,
phân ra có đội ngũ giao cho Lê Hoàn quán thống. Năm 980 vua bị tên Đỗ Thích giết,
đình thần tôn con thứ của vua tên là Triều lên Kế vị.
2. Phế đế 980 -981. 1năm. Triều lên ngôi hiệu là Phế đế, khi ấy mới có sáu tuổi.
Quyền nhiếp chính về tay Lê Hoàn, oai thế lẫy lừng, vì có tư thông với bà Dương Thái
Hậu là vợ vua Đinh Tiên Hoàng. Trong bọn đình thần có người bất bình, toan mưu hại
Lê Hoàn. Lê Hoàn hay được bèn bắt mà giết đi. Lúc này Trung nguyên cử binh qua
đánh nước Nam. Quan sĩ hòng ra trận, thì có người nói rằng: vua còn thơ ấu, lấy ai mà
thưởng phạt cho minh. Chi bằng ta tôn Thập đạo tướng quân lên rồi sẽ đánh không
muộn chi. Nói vừa dứt lời cả triều đều tung hô, phò Lê Hoàn lên ngôi, lập nên nhà
tiền Lê.
Từ Đinh Tiên Hoàng 968 cho đến năm 1278, bên Trung nguyên nhắm đời Bắc Tống
(Triệu Khuông Dẫn)
II. Nhà Tiền Lê
3 đời vua trị 28 năm 981 – 1010
1. Lê Đại Hành, 981 – 1006, 25 năm. Lê Hoàn tức vị, xưng Lê Đại Hành. Các quan
triều bái vừa xong, vua ra trận đánh thắng, hai tướng Trung nguyên bị bắt triệu về
kinh. Sau có sứ triều Tống qua giao hòa, vua dạy trả lại.
Khi ấy Chiêm thành vì phép, bắt cầm sứ An Nam, vua Lê Đại Hành kéo binh đánh
phá tan hoang, đốt kinh đo, chùa miếu, lấy của cải rất nhiều.
Lê Đại Hành băng hà năm 1006, di chúc lập con thứ là Long Việt.
2. Lê Trung Tông: 1006. Long Việt lên ngôi hiệu là Lê Trung Tong, làm vua mới được
3 ngày bị em là Lê Long Đĩnh thi đi mà giành quyền.
3. Lê ngọa triều, 1006 – 1010, 4 năm. Vua này tính độc ác, ưa xem những sự dữ tợn.
Vua dạy bắt tội nhân, lấy rơm tẩm dầu rồi đốt cháy mà coi chơi. Có khi lại bắt thầy sãi
(nhà sư) quì xuống, để mía lên đầu mà róc, giả đò sẩy tay nhầm, chảy máu ta lênh
láng. Sử đặt tên vua này là Ngọa triều, vì tính hay dâm dục, nên mang bệnh, hệ mỗi
khi lâm triều thì nằm. Lê ngọa triều băng, để lại một đứa con trai còn nhỏ, sau bị Lý
Công Uẩn là tôi quyền thần phế đi mà lập nên đời hậu Lý.
III. Nhà hậu Lý
IV. 9 đời vua, trị 215 năm (1010 – 1225)
1. Lý Thái Tổ: 1010 – 1028, 18 năm. Lý Công Uẩn lên ngôi, hiệu là Lý Thái Tổ, đóng
đô tại Đại la, sau cải lại là Thăng Long (Hà Nội), ấy là đế đô nhà hậu Lý tới nhà hậu
Lê.
Đời này thật thái bính, dân no đủ, vua tu tạo đền đài, sửa sang đế đô lại nên rất xinh
đẹp. Triều nhà Tống (Chân Tông, 998 – 1023) sai sứ qua phong cho Lý Công Uẩn là
Giao chỉ quận vương.
Vua trưng các sắc thuế, lập đồn thủ để mà thâu thuế xuất cảng nhập cảng.
Qua năm 1028 Lý Thái Tổ băng, truyền ngôi lại cho con truowgr nam là Phật Mã.
2. Lý Thái Tông 1028 – 1054, 26 năm. Lý Thái Tông (Phật Mã) chưa tức vị, thì ba em
vua bèn kéo binh tới vây thành, nhờ có ông Lê Phụng Hiểu ra cự, chém được một
người, mới yên đám giặc ấy. Đời vua này trong 15 năm đầu, mắc lo việc chinh chiến,
dẹp tan giặc trong nước, giặc ngoài biên thùy lại nổi lên. Năm 1043, binh Chiêm thành
cướp phá dọc gành bãi nước Nam, Lý Thái Tông cử binh kéo tới thành đô, bắt được
3000 dân Chàm đem về nước cho đất vỡ ruộng làm ăn.
Nước Chiêm thành khi ấy kể từ tỉnh Quảng trị cho tới Bình thuần bây giờ, còn nước
An Nam kể hết xứ Bắc Kỳ cho tới Quảng trị.
Đời nhà Lý hay sùng đạo Phật. Vua Lý Thái Tông thừa lúc thái bình lập chùa miếu,
cấp ruộng đất để lấy hoa lợi mà phụng tự. Vua này tính khoan nhân đại độ, hằng lo
cho dân được ấm no. Năm mất mùa bão lụt, giặc giã thì giảm thuế, lại xuất của kho
mà trợ kẻ nghèo. Vua ra chỉ cấm nhặt nghê buôn mọi, lập nhà tram, dạy kiểm duyệt
luật hình, luật hộ, đinh phần hưu trí cho các quan văn võ.
Đời vua này, bày nghề dệt tơ lụa. Lý Thái Tông băng năm 1054, có di chúc lập thái tử
Nhật Tôn.
3. Lý Thánh Tông, 1054 – 1072, 18 năm. Nhật Tông lên ngôi, hiệu là Lý Thánh Tông,
cải nước Giao chỉ là Đại Việt. Đời này có giặc Chiêm Thành dấy lên nữa. Vua cử binh
đi đánh chín tháng trường mà không dẹp yên được. Lúc trở về, nghe người khen ngợi
bà hoàng hậu có công trị nước, vua bèn hổ thẹn kéo binh trở lại, ra sức đánh phá
Chiêm thành.
bắt được chúa tể là Chế củ đem về nước. Sau Chế Củ phải dần châu Địa trí (Quảng
bình) và châu Ma linh (Quảng trị) mà chuộc tội.
Vua này dậy chế độ triều phục của các quan văn võ, bày đội mão, mang hia.
Lý Thánh Tông cũng là một vị nhân quân, đời người trị nước thì nhà nước được
cường thịnh.
4. Lý Nhân Tông , 1072 – 1128, 56 năm. Đời này có giặc Trung nguyên, Chàm, Chân
lạp. Vua sai Lý Thường Kiệt cầm binh đánh thắng binh Tầu mà bắt được 40.00. Lý
Nhân Tông dạy thích tự tự tha mà về nước hết. Triều nhà Tống cảm ân đức vua, bèn
rút binh về Trung nguyên.
Đời này chuộng việc học hành, có mở khoa thi chọn người thông minh để mà giúp
nước, vua lập Hàn lâm viện, sai sứ qua Tầu mua kiếm sách vở, định quan chức văn
võ, phân làm 9 phẩm, dạy đắp bờ đê mà ngừa lụt sông Nhị hà.
Lý Nhân Tông không con, truyền ngôi lại cho cháu. Lúc này binh Kim xâm lược
Trung nguyên, bắt vua Khâm Tông và Huy Tông, qua đời Nam Tống (Cao Tông)
5. Lý Thần Tông. 1128 – 1138, 10 năm. Lý Thần Tông lên ngôi, đại xá cho tù phạm và
hạ chỉ cho binh lính nghỉ thay phiên mỗi năm 6 tháng mà giúp việc canh nông. Vua lại
cấm trong hàng các quan văn võ, không đặng gả con, trước khi triều đình tuyển cung
nữ.
6. Lý Anh Tông, 1138 – 1175, 37 năm. Thiên Tộ l
Thể loại: History
Tác Giả: Nguyễn Văn Mai
Nhà xuất bản Sài Gòn -1919
Biên tập Ebook: http://www.SachMoi.net
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và Nhà
Xuất Bản
TIỂU DẪN
I- Sử: Sử là truyện tích xưa, chỉ dẫn cội rễ một nước, một loại dân chép những sự tân
hóa, những lúc hưng vong, trị loạn, những thói tục, đạo đức cùng sự giao thiệp với
ngoại bang. Lấy xưa mà sánh nay, lấy lành mà răn dữ, sử cũng là gương soi mình cho
các đấng cầm quyền trị nước và nhân dân vậy: vua chúa xem lấy mà tu cang kí, nhơn
dân đọc lấy mà sửa tề gia.
II- Đời sơ nguyên: Sự văn minh hóa của một nước khởi từ khi bày ra chữ nghĩa, nhất
là từ khi tìm đặng phép in sách vở mà lưu truyền đến sau. Có sách vở mới tri nguyên
những sự tích xưa mới lập thành chánh sử được.
Phàm sử ký nước nào cũng vậy, cũng chia ra làm hai đời phân biệt: đời thượng cổ - là
đời u minh chưa có sử và đời chánh sử - là đời đã có chữ nghĩa văn minh. Những
truyện xứ ta trong thời thượng cổ, từ nhà Hồng bang cho đến nội thuộc Trung nguyên
thì chép y theo sử Tầu. Phần nhiều là những điều truyền khẩu, nhưng sự phi thường
không đáng tin, vì không có đủ bằng cớ mà kê cứu. Nước Nam có chính sử là kể từ
năm 111, trước Chúa giáng sinh, Tầu mới qua chiếm trị, bắt người Nam học chữ Nho,
theo đạo nho.
III- Dòng giống người Annam: Người Annam cũng thuộc một chi với người Tầu và
người Nhật bản, gốc bên Tây tạng (Thibet) mà ra. Lúc ban sơ mới lìa chi thì lần qua
phía Đông, nơi tỉnh Vân nam, Quảng tây, Quảng đông bây giờ. Đụng người Trung
nguyên không chống cự nổi, mới dồn xuống phía nam, nơi xứ Bắc kỳ, thì lại gặp dân
bổn thổ: Lào, Lâm ấp, Chiêm thành (Ciampois), Chân lạp (Cambodgiens). Khi đó
phải tranh phong với những dân ấy đã nhiều trận, đã lâu đời, mới lấy đặng nước
chúng nó, rồi cũng có ăn chung lộn với nhau mà nối sanh ra, thì dòng giống người
Nam lai lần đầu.
Đến sau hết từ đời Tây hán, vua Hiếu võ đế nước Nam bị Trung nguyên chế phục (111
trước chúa giáng sinh). Người Tầu mới sang qua mà lập nghiệp, kết bạn cùng đàn bà
xứ ta mà sinh sản ra thì cái cốt cách nguyên sơ của người Nam lại đổi khác nữa, nhưng
mà chưa có lạc mất.
III- Đạo của dân Annam: bên Trung nguyên từ đời Tam hoàng, Ngũ đế cho tới Hạ,
Thượng, Châu, chỉ lấy đạo Trời Đất làm gốc. Thiên tử thì tế Giao, tế Xã là tế Trời Đất;
chư hâu tế Sơn Xuyên là tế thần núi song, công khanh tế thần Hậu thổ, thần Đất đai.
Còn sĩ thứ tế tổ tiên ông bà qua vãng.
Đời Châu định vương (606 – 585) trước chúa giáng sinh, lão đa, xuất thế (604 – 500)
bầy ra đạo đức kinh. Từ ấy mới có đạo Lão tử.
Đời Châu linh vương (571 – 544) trước chúa giáng sinh, đức Khổng tử (550 – 480)
truyền đạo Nho, dạy cang thường luân lý.
Đến năm 207 trước công nguyên, nhằm đời Tây hán, vua Cao tổ đạo Phật bên xứ
Thiên trúc đã sang qua Trung nguyên. Đời Tây Hán vua Hiếu minh đế (58 – 76) sau
chúa giáng sinh, sai người qua thiên trúc mà rước thầy sãi và thỉnh kinh Phật.
Đạo Lão tử, đạo Nho, đạo Phật kêu là Tam giáo, dân Tầu cũng kính thờ hết cả ba.
Sử nước Nam, đời sơ nguyên chép rằng: nhà Hồng bang là dòng dõi Thần nông. Vậy
thì lúc xưa ta cũng giữ đạo thời Trời đất và ông bà. Sau nước nam bị Trung quốc
chiếm trị, thì người Nam cũng theo Tam giáo như người Tầu vậy, duy lấy sự phụng tự
nhiên làm gốc.
V- Sử nước nam: nước Nam có quốc sử kể từ đời Trần Thánh Tông (1258 – 1279).
Ông Lê Văn Hưu phụng lệnh soạn thành bộ Đại việt sử ký, khởi từ Triệu võ Vương
cho đến Lý Chiêu Hoàng thì dứt. Sau mới chép với tới Hồng bàng thị.
Phép lu sử thì dẫn những việc các dòng vua trước chớ không nói về dòng vua đương
trị vì nhà sử quản biên những điều đại khái các đời vua ấy mà để có nơi, qua họ khác
lên cầm quyền thì mới lấy ra mà viết nối theo, lần lần như vậy mới tư thành quốc sử.
Sử Nam cũng như sử Tầu còn sơ lược, chỉ chép giặc giã nhắc chuyện nhà vua, còn sự
văn minh lấn hóa, việc nông cơ, kỹ nghệ, đạo đức, cách ăn thói ở của dân và đều quí
trọng hơn hết là sự học hành thì phớt qua mà thôi, cũng có khi không nói đến. Muốn
hiểu rõ sự tích nước mình thì phải xem mấy pho sử của người Lãng sa soạn ra, ngặt
phần nhiều dân Nam không thông chữ Pháp.
Bổn sử tôi soạn ra đây dẫn giải tuy là đại lược nhưng mà do theo chương trình mới về
bậc Sơ học thì cũng đủ cho con nhà Nam đọc lấy cho rõ cội nguồn rễ xứ mình.
Những sự tích đem vào sách nầy, nhất là từ nhà Nguyễn tới sau, đã có tra sát trước
trong mấy quyển sử chữ Tây.
Sau rốt tôi có đính thêm bản kể các đời vua Annam, đối với các đời vua Tầu và Lãng
sa, từ sơ nguyên cho đến bây giờ, trước là để phụ ích cho sách nầy, sau nữa là giúp kẻ
nào hay nghiệm xưa nay khỏi nhọc công tìm thêm.
Vĩnh hội – Aoril 1919
NGUYỄN VĂN MAI
NAM VIỆT LƯỢC SỬ
CHƯƠNG I: ĐỜI SƠ NGUYÊN TỚI NĂM 968 (SAU
GIÁNG SINH).
I. Nhà Hồng bàng
20 đời vua, trị 2647 năm (2874 – 257, trước giáng sinh)
1- Kinh Dương Vương: vua này là con vua Đế minh, chắt vua Thần nông bên Trung
quốc, lên ngôi năm 2874, đặt niên hiệu là Kinh Dương Vương. Nước Nam khi ấy kêu
là Xích Qùi, phía Bắc giáp tỉnh Quảng tây, phía Đông giáp Nam hải, phía Tây giáp
nước Thục (tỉnh Cao bằng), phía Nam giáp xứ Chiêm thành (Ciampa)
2- Lạc Long Quân: con vua Kinh dương Vương tên là Lạc Long Quân, Lạc Long Quân
truyền ngôi lại cho con trưởng nam là Hùng vương thứ nhất. Kể từ đây những kế vị
đều lấy hiệu Hùng vương cho đến đời Hùng vương thứ 18 (257) trước giáng sinh thì
mất nước.
3- Hùng vương thứ nhất: Vua này cải tên nước lại là Văn Lang, chia làm 15 quận:
- Văn lang (đế đô)
- Giao chỉ (Hà nội, Hưng yên, Nam định)
- Châu diễn (Sơn tây)
- Võ ninh (Bắc ninh)
- Phước lộc (Sơn tây)
- Việt thường (Quảng bình, Quảng trị)
- Ninh hải (Quảng yên)
- Dương tuyên (Hải dương)
- Lục hải (Lạng sơn)
- Võ định (Thái nguyên, Cao bằng)
- Hoài hoan (Nghệ an, Hà tĩnh)
- Bình giao….
- Tân hung (Hưng hóa, Tuyên quang)
- Cử đức
Sự giao tiệp với nước Tầu
Năm 110 trước giáng sinh, bên Tầu nhằm vua Thành vương, chà Châu, vua Annam
sai sứ qua cống bạch trĩ. Lúc trở về ông Châu công Đáng là chú vua, sợ sứ đi lạc
đường, bèn dạy đóng một cỗ xa, có để cái địa bàn chỉ hướng nam cho sứ.
Sự giao thiệp và tận cống với nước Tầu là kể từ đời này.
Tích vẽ mình
Đời Hùng vương thứ nhất bày ra thủ tục vẽ mình là vì dân sự đi làm nghề chai lưới,
thường bị những loài thủy tộc phá hoại. Vẽ mình ra có rắn rực, thì rắn rít, sâu, cá,
tưởng là đồng loại với nó mà không động đến.
Tục vẽ mình xâm mình đến nay hãy còn nơi các mán mọi, như Mường, ở Tonkin,
Kha, ở Lào.
Cũng như đời vua Hùng vương này bầy ra đóng ghe có vẽ con mắt hình như cá.
Tích bão lụt xứ Bắc
Vua Hùng vương thứ 18 có một đứa con gái dung nhan đẹp đẽ. Vua nhà Thục đã nghe
phen cậy người đi nói cho thái tử, mà vua Hùng vương không chịu gả. Ngày kia có hai
người trai tới xin làm rể. Vua phán rằng: trẫm vốn có một đứa con, không lẽ đưa cho
hai người. Như rạng sáng mai ai đem sính lễ tới đủ thì trẫm sẽ gả cho.
Sơn tinh đến trước, cưới được công chúa, đem lên núi Tản viên (Tonkin). Thủy tinh
chậm bước hụt vợ, nên oán hận, làm dông gió bão lụt đặng hại Sơn tinh, mà không
làm chi nổi.
Bởi vậy, hễ khi nào có bão lụt, thì những người hay tin dị đoan thường nói rằng lại là
sự cừu ấy mà ra.
Hùng vương thứ 18: Vua này hoang dâm vô độ, không lo việc quốc chính, lại gây họa
cho nước nhà, là vì không khứng gả công chúa cho tháu tử nước Thục. Vua nước
Thục, tên Phán dấy binh đánh gấp, vua Hùng vương tính bề cự không nổi, bèn tự vẫn
mà chết, hết đời Hồng bàng, truyền qua đời Thục.
II. Nhà Thục
1 đời vua, trị 50 năm (257 -207) trước giáng sinh.
Cháu nội vua nước Thục, tên là Phán, lấy đặng nước Văn lang của Hùng vương, bèn
sát nhập với nước mình là Âu lạc, kêu là Âu việt, lên ngôi xưng là An dương Vương ,
trị đặng 50 năm. Vua này không có con trai, có một người con gái gả cho con Triệu
Đà. Sau bị triệu đà dụng quỉ kế lấy đặng nước dựng nên nhà Triệu.
Nguyên nước Âu việt ở giáp cương giới với nước Tầu, có nhiều thứ thổ sản quí lạ, nên
ghe phen Trung quốc muốn chiếm đoạt. Tần thủy Hoàng (246 – 209) trước giáng sinh,
sai hai tướng Nhâm Ngao và Triệu đà qua đánh Âu việt. Đánh đã lâu mà lấy không
được. Kế Tần Thủy Hoàng băng, Nhâm Ngao qua đời còn một mình Triệu đà cô thế,
cứ giữ xứ Lãnh nam (phía bắc nước Âu việt)
Triệu đà thừa lúc loạn Trung nguyên , nhà Tần mất, tính lập một cõi riêng, bèn giao
lân cùng vua An Dương Vương cưới công chúa cho con. Sau đặng binh ròng tướng
mạnh, trở lại đánh vua An dương Vương mà lấy nước, lập nên đời nhà Triệu.
III. Nhà Triệu.
5 đời vua trị 96 năm (207 – 111) trước giáng sanh.
1- Triệu võ đế (207 – 136) Triệu Đà lấy đặng nước Âu việt, sát nhập với nước mình,
kêu là Việt nam, rồi lên làm vua hiệu là Triệu võ đế, đóng đô tại Phiên ngu (tỉnh
Quảng đông). Lúc nầy bên Trung quốc, Lưu Bang diệt Hạng Võ lập nên đời Tây Hán.
Hán cao tổ sai Lục Giả qua Việt nam phong tước cho Triệu Đà. Từ khi ấy nước Nam
cứ giữ đạo chư hầu, thường năm dâng cống cho nhà Hán.
Hán cao tổ băng (194), Lữ Hậu phế Huệ đế lên tiếm ngôi, bèn cấm người Trung quốc
không cho bán đồ khí cụ cho Annam. Triệu võ đế giận cử binh đánh lấy nước Trường
sa, là nước chư hầu của Trung quốc rồi xưng đế như vua Trung nguyên vậy.
Lữ hậu mất Hiếu văn đế lên ngôi, sai Lục Giả qua giải hòa với Triệu Đà. Từ đấy nước
Nam qui phục lại nước Tầu như xưa.
2- Triệu văn vương (136 – 121) Hồ lên ngôi xưng là Triệu văn vương. Vua này tính
không ưa giặc giã. Lúc người trị vì, có nước Mân việt là nước chư hầu của Trung
quốc, qua xâm phạm cõi Nam. Vua sai sứ đi viện binh nhà Hán dẹp đặng giặc rồi cho
con trưởng nam là Anh tế qua ở làm con tin triều Hán.
3- Triệu minh vương (124 – 113) Anh Tề lên ngôi, xưng hiệu là Triệu minh vương, trị
nước được 11 năm. Lúc Anh Tề qua làm con tin bên nhà Hán, thì có cưới một người
vợ Trung nguyên tên là Cù thị, sanh đặng một đứa con trai kêu là Hưng. Anh Tề
phong Cù thị làm hoàng hậu, Hưng làm thái tử, phế con của người vợ Annam khi
trước là cho đình thần bất bình.
4- Triệu ai vương (113 – 111) Hưng lên nối nghiệp cha, xưng hiệu là Triệu ai vương ở
ngôi đặng ít năm, kế nhà Hán sai sứ qua đòi vua và mẹ con hầu ngự giá, thì trong
nước bọn đình thần có ông Lữ gia nới rằng: vua và hoàng thái hậu âm mưu mãi quốc,
bèn khiến dân dậy lên bắt giết cả hai người rồi tôn con người vợ Annam lên ngôi, hiệu
là Thuật dương vương.
5- Thuật Dương vương (111) vua này ở ngôi chưa đầy một năm, kế bên triều Hán, vua
Hiếu võ đế cử binh qua lấy nước mà sáp nhập về Trung nguyên.
IV. Thuộc Trung nguyên lần thứ nhất
Năm 150 – 111 trước giáng sinh – 39 sau giáng sanh
Năm 1 Chúa giáng sinh, nhằm đời Hiếu ai đế (Tây hán - kể từ đây về sau là đời Thiên
chúa.
Triều Tây hán sai quan Tầu qua cai trị chia nước Nam là 9 quận:
- Nam Hải (Quảng đông)
- Thương ngô (Quảng tây)
- Uất lâm (Quảng tây)
- Hiệp phò (Quảng đông)
- Giao chỉ (Quảng tây)
- Cửu chân (Quảng tây)
- Nhựt nam (Tonkin)
- Châu nhai (Cù lao, Hải nam)
- Thiên nhĩ (Cù là gần Hải nam)
Trong bọn quan Tầu qua cai trị nước Nam có 2 người: Tích quang và Nhâm Diên hay
lo lắng cho dân. Tích Quang thì dậy dân học chữ nghĩa cùng đạo lý đức Khổng tử,
Nhâm Diên dậy dân vỡ đất làm ruộng, trồng dâu nuôi tằm. Còn những quan khác hay
tham ô, làm nhiều điều khắc bạc, nên thường gây ra loạn lạc.
Năm 39 sau công nguyên, nơi quận Giao chỉ có một người đàn bà tên là Trưng trắc
khiến dân dấy lên, bắt thái thú Tô Định giết đi mà báo cừu cho chồng, rồi thâu cả
nước Nam lên làm vua được 3 năm.
V. Trưng nữ vương (39 – 42)
Trưng Trắc lên ngôi đặng vài năm, kế bên Trung nguyên, triều Đông Hán, vua Quan
Võ sai Mã Viện qua bình phục Giao chỉ. Ban đầu đánh nhau cầm cự, chưa biết hơn
thua. Sau binh Giao chỉ vẫn không thiện nghề chinh chiến, bèn đỏ lần hết, Trứng Trắc
và em là Trưng Nhị thế cùng nên phải tự vẫn cho khỏi bị nhục.
Mã Viện bình Giao chỉ rồi, truyền đúc một cây trụ đồng, trồng tại Khâm châu có khắc:
Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt (Đồng trụ ngã, dân Giao chỉ dứt.)
Từ đây nước Nam phải sát nhập về Trung Nguyên lần thứ hai.
VI. Thuộc trung nguyên lần thứ hai
144 năm (42 – 186)
Sĩ vương 186 – 226 Lúc này bên Trung nguyên nhà Đông Hán hầu dứt, qua Tam quốc
phân tranh. Sĩ nhiếp dùng dịp loạn xưng vương, hiệu là Sĩ vương, trị nước được 40
năm. Nguyên Sĩ nhiếp là người Trung quốc mà tiên nhơn sang ở nước Nam lâu đời,
nên đã thành người Nam.
Sĩ Nhiếp lên ngôi xưng hiệu là Sĩ vương, khai trường dậy chữ nho, dậy phong hóa
Trung quốc. Đời vua này có nhiều người hay chữ không kém chi người Trung
nguyên. Sĩ nhiếp băng, Đông ngô sai tướng là Lữ Đại qua dụ em Sĩ Nhiếp là Sĩ Huy
thần phục nhà Ngô rồi thừa thế mà giết đi. Nước Nam bị sát nhập về Trung nguyên lần
thứ 3.
VII. Thuộc về Trung nguyên lần thứ ba
314 năm (226 – 540)
Từ năm 226 tới 540 nước Nam bị nhà Hậu Hán Ngô, Ngụy (Tam quốc) Tấn Tống Tề
Lương kiềm chế 314 năm.
Những quan Trung Nguyên qua cai trị cõi Nam trong mấy đời ấy thì cũng như các
quan đời trước ít người nhân hậu, nhiều tay tàn bạo. Thuở ấy có xứ Lâm ấp, sau kêu là
Chiêm thành (Ciampa) ở phía nam hay đến đánh phá nước Nam. Đã bao phen bị thua,
bị giết mà không chừa tính hung hăng. Qua đến đời chứa Hiền vương (1649 – 1685)
nhà Nguyễn mới trừ tuyệt.
Nước Nam lúc nầy về nhà Lương chế trị. Quan thái thú Tiêu tư là nhiều điều độc ác,
khiến lòng dân oán hận. Lý Bôn thừa cơ hội cầm binh đánh đuổi quân Trung nguyên
rồi lên ngôi hiệu là Lý Nam đế.
VIII. Nhà tiền Lý
2 đời vua, trị 58 năm (544 – 602)
1- Lý nam đế: 544 0 548 , bốn năm. Lý Bôn vốn là người Trung nguyên, nhân lúc loạn
Tây Hán. Vương Mãng soán ngôi vua Hiếu bình, qua ở ngụ tại Giao châu lâu đời, nên
đã thành người Nam.
Lý Bôn lên ngồi xưng là Lý Nam Đế trị được 4 năm, kế bên Trung nguyên, nhà Lương
sai Trần bá Tiến qua đánh Nam việt, Lý Nam Đế yếu thế bèn giao quyền cho tướng
quân Triệu Quang Phục, cách ít năm thọ bệnh mà băng.
2- Triệu Việt Vương 549 – 570, 24 năm. Triệu Quang Phục cầm binh đánh với quân
Tầu đã lâu. Sau binh Trần bá Tiên đổ lần, rồi rút về Trung nguyên hết. Triệu Quang
Phục lên ngôi hiệu là Triệu Việt Vương, trị được 21 năm rồi truyền lại cho Lý phật Tử,
là dòng dõi tôn thất nhà Lý.
3- Lý Phật Tử, 570 502, 32 năm. Lúc này Trung Nguyên nhắm nhà nhà Tùy. Tùy
dương Kiên sai Lưu Phương sang đánh Nam Việt. Lý Phật Tử sợ, bèn xin qui hàng. Từ
đây nước Nam bị Trung nguyên kiềm chế lần thứ 4.
IX. Thuộc trung nguyên lần thứ 4.
Từ năm 603 – 939 bên Trung nguyên nhằm đời Tùy, Đường, Ngũ đại.
Vua nhà Tùy nghe nói bên cõi Nam, nơi xứ Lâm ấp có nhiều vật quí lạ, nên sai Lưu
Phương qua một lần nữa mà cướp phá, vua Lâm ấp là Phạm phàn Chi chống cự không
nổi, quân Trung nguyên đoạt được kinh thành Lâm ấp, cướp giật của cải, còn Lưu
Phương thì lấy vàng ngọc rất nhiều. Nhưng mà lúc trở về, binh chết hết ba phần, Lưu
Phương cũng bỏ mình.
Nhà Tùy mất (617), nhà Đường dấy (618) vua Đường cảo tổ cải nước Nam Việt lại
thành Annam đô hộ phủ, chia làm 13 châu.
Nước Annam khi ấy, kể từ Bắc kỳ cho tới tỉnh Quảng Nam. Trên phía Tây bắc là nước
nam chiều (tỉnh Vân nam) phía Tây là nước Lào, phía Nam là nước Chân lạp (Cao
man) còn nước Lâm ấp (Chiêm thành) ở từ quận Nhật nam cho tới ranh chơn lạp.
Nhà Đường cai trị nước Nam. Đường cao tổ lên ngôi Trung nguyên năm 618. Việc cai
trị xứ Annam lúc bấy giờ cũng như các đời vua trước: trên hết thị đặt một quan Thứ
sử, gồm hay cả xứ thuộc địa, dưới thì mỗi châu có một thái thú cai trị. Những viên
quan phần nhiều là người Tầu, tính tham lam độc ác lại quá hơn khi trước.
Dân An Nam bị sưu cao thuế nặng đã ghe phen muốn khởi loạn, mà không thành sự.
Có quan thái thú Lý Trắc làm khổ các mán mọi, nên gây họa., Các mán mọi hiệp với
nước Nam chiếu tới cướp phá đuổi người Tầu, thâu được nước Nam. Sau nhà Đường
sai Cao Biền bình định trong 10 năm mới yên. Cách ít lâu binh Nam chiều kéo đến
một lần nữa. Nhà Đường dụng kế đưa công chúa cho vua Nam chiếu. Vua Nam chiếu
ngờ là thiệt, bèn sai ba viên danh tướng đi đón rước, thì cả ba điều bị thuốc độc mà
thác, từ ấy nước Nam mới yên đặng một khoản.
Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ: Nhà Đường suy, sang đời Ngũ đại (907 – 957), là hậu
Lương, hậu Đường, hầu Tấn, hậu Hán, Hậu châu.
Nhà hậu Lương phong Lưu Ấn làm Nam bình vương, đóng đô tại Phiên ngu, phong
Khúc Hạo là Thái thú Giao châu (An nam).
Lưu Ấn qua đời , em là Lưu Nghiêm lên thế vị xưng là hoàng đế Nam hán (917)
Khúc Hạo mất, em là Khúc Thừa Mỹ vâng mạng vua hậu Luong, gồm trị cả 12 châu
xứ Nam. Cách ít lâu vua Nam Hán khởi binh đánh bắt Khúc Thừa Mỹ. Dương Đình
Nghệ cầm binh đuổi quân Nam hán, rồi lại bị Kiều công Tiện là tướng của mình âm
mưu giết đi.
Khi ấy có Ngô Quyền, gốc là người An Nam cũng là tướng của Dương Đình Nghệ ra
chống cự, thắng được Kiều Công |Tiện, sau lập nên nhà tiền Ngô, làm vua được 5 đời
trị được 30 năm.
X. Nhà tiền Ngô
5 đời vua, trị 30 năm 939 – 968
Ngô Quyền làm vua được 5 năm 939 - 941 thì băng, truyền ngôi lại cho con là Xương
Ngập, khi ấy còn nhỏ. Dương Tam Ca là cầu lên làm phụ chánh, rồi dùng dịp mà đoạt
ngộ, xưng Bình vương 945 – 949. Sau bị Xương Văn là con thứ Ngô Quyền giành lại à
cai trị, rồi truyền cho Xương Xí.
Lúc này nước An Nam chia làm 12 châu, mỗi châu có một sứ quân, mỗi sứ quân thì
xưng vương một cõi, mạnh lẫn yếu, loạn lạc cả năm. Hậu Ngô vương là Xương Xí
cũng trấn một quận, không làm gì nổi mấy sứ quân khác, tuy là khỏi làm tôi mọi
Trung nguyên, chứ người Nam chưa dựng được nền độc lập. Sau đó có một người họ
Đinh dấy lên dẹp 12 sứ quân, lập nên đời chính thống.
CHƯƠNG II: ĐỜI CHÍNH THỐNG.
I. Nhà Đinh
2 đời vua trị được 13 năm 968 – 981
1. Đinh Tiên Hoàng: 968 – 980, 12 năm. Người dẹp yên 12 sứ quân ấy là Đinh Bộ
Lĩnh, quê ở Hoa lư ( tỉnh Ninh Bình), vố là con của Đinh Công Trứ, làm thái thú châu
Hoan khi trước. Cha mẹ mất sớm, Đinh Bộ Lĩnh ở làm thỉ hạ với sứ quân Trần minh
Công quận Bố chính. Trần minh Công qua đời, Đinh Bộ Lĩnh bèn chiêu tụ anh hùng,
rồi cử binh đánh đuổi các sứ quân.
Năm 968, người lên ngôi xưng hiệu là Đinh Tiên Hoàng, cải nước Nam là Đại Cồ Việt.
Phong cho Lê Hoàn là tôi công thần làm chức Thập đạo tướng quân. Vua này bề luật
rất nghiêm, trước sân chầu có để vạc dầu sôi, có nhốt thú dữ, mà răn dân sự cho
chúng nó bỏ thói hung hăng theo đời 12 sứ quân. Vua lại tu chỉnh việc binh nhung,
phân ra có đội ngũ giao cho Lê Hoàn quán thống. Năm 980 vua bị tên Đỗ Thích giết,
đình thần tôn con thứ của vua tên là Triều lên Kế vị.
2. Phế đế 980 -981. 1năm. Triều lên ngôi hiệu là Phế đế, khi ấy mới có sáu tuổi.
Quyền nhiếp chính về tay Lê Hoàn, oai thế lẫy lừng, vì có tư thông với bà Dương Thái
Hậu là vợ vua Đinh Tiên Hoàng. Trong bọn đình thần có người bất bình, toan mưu hại
Lê Hoàn. Lê Hoàn hay được bèn bắt mà giết đi. Lúc này Trung nguyên cử binh qua
đánh nước Nam. Quan sĩ hòng ra trận, thì có người nói rằng: vua còn thơ ấu, lấy ai mà
thưởng phạt cho minh. Chi bằng ta tôn Thập đạo tướng quân lên rồi sẽ đánh không
muộn chi. Nói vừa dứt lời cả triều đều tung hô, phò Lê Hoàn lên ngôi, lập nên nhà
tiền Lê.
Từ Đinh Tiên Hoàng 968 cho đến năm 1278, bên Trung nguyên nhắm đời Bắc Tống
(Triệu Khuông Dẫn)
II. Nhà Tiền Lê
3 đời vua trị 28 năm 981 – 1010
1. Lê Đại Hành, 981 – 1006, 25 năm. Lê Hoàn tức vị, xưng Lê Đại Hành. Các quan
triều bái vừa xong, vua ra trận đánh thắng, hai tướng Trung nguyên bị bắt triệu về
kinh. Sau có sứ triều Tống qua giao hòa, vua dạy trả lại.
Khi ấy Chiêm thành vì phép, bắt cầm sứ An Nam, vua Lê Đại Hành kéo binh đánh
phá tan hoang, đốt kinh đo, chùa miếu, lấy của cải rất nhiều.
Lê Đại Hành băng hà năm 1006, di chúc lập con thứ là Long Việt.
2. Lê Trung Tông: 1006. Long Việt lên ngôi hiệu là Lê Trung Tong, làm vua mới được
3 ngày bị em là Lê Long Đĩnh thi đi mà giành quyền.
3. Lê ngọa triều, 1006 – 1010, 4 năm. Vua này tính độc ác, ưa xem những sự dữ tợn.
Vua dạy bắt tội nhân, lấy rơm tẩm dầu rồi đốt cháy mà coi chơi. Có khi lại bắt thầy sãi
(nhà sư) quì xuống, để mía lên đầu mà róc, giả đò sẩy tay nhầm, chảy máu ta lênh
láng. Sử đặt tên vua này là Ngọa triều, vì tính hay dâm dục, nên mang bệnh, hệ mỗi
khi lâm triều thì nằm. Lê ngọa triều băng, để lại một đứa con trai còn nhỏ, sau bị Lý
Công Uẩn là tôi quyền thần phế đi mà lập nên đời hậu Lý.
III. Nhà hậu Lý
IV. 9 đời vua, trị 215 năm (1010 – 1225)
1. Lý Thái Tổ: 1010 – 1028, 18 năm. Lý Công Uẩn lên ngôi, hiệu là Lý Thái Tổ, đóng
đô tại Đại la, sau cải lại là Thăng Long (Hà Nội), ấy là đế đô nhà hậu Lý tới nhà hậu
Lê.
Đời này thật thái bính, dân no đủ, vua tu tạo đền đài, sửa sang đế đô lại nên rất xinh
đẹp. Triều nhà Tống (Chân Tông, 998 – 1023) sai sứ qua phong cho Lý Công Uẩn là
Giao chỉ quận vương.
Vua trưng các sắc thuế, lập đồn thủ để mà thâu thuế xuất cảng nhập cảng.
Qua năm 1028 Lý Thái Tổ băng, truyền ngôi lại cho con truowgr nam là Phật Mã.
2. Lý Thái Tông 1028 – 1054, 26 năm. Lý Thái Tông (Phật Mã) chưa tức vị, thì ba em
vua bèn kéo binh tới vây thành, nhờ có ông Lê Phụng Hiểu ra cự, chém được một
người, mới yên đám giặc ấy. Đời vua này trong 15 năm đầu, mắc lo việc chinh chiến,
dẹp tan giặc trong nước, giặc ngoài biên thùy lại nổi lên. Năm 1043, binh Chiêm thành
cướp phá dọc gành bãi nước Nam, Lý Thái Tông cử binh kéo tới thành đô, bắt được
3000 dân Chàm đem về nước cho đất vỡ ruộng làm ăn.
Nước Chiêm thành khi ấy kể từ tỉnh Quảng trị cho tới Bình thuần bây giờ, còn nước
An Nam kể hết xứ Bắc Kỳ cho tới Quảng trị.
Đời nhà Lý hay sùng đạo Phật. Vua Lý Thái Tông thừa lúc thái bình lập chùa miếu,
cấp ruộng đất để lấy hoa lợi mà phụng tự. Vua này tính khoan nhân đại độ, hằng lo
cho dân được ấm no. Năm mất mùa bão lụt, giặc giã thì giảm thuế, lại xuất của kho
mà trợ kẻ nghèo. Vua ra chỉ cấm nhặt nghê buôn mọi, lập nhà tram, dạy kiểm duyệt
luật hình, luật hộ, đinh phần hưu trí cho các quan văn võ.
Đời vua này, bày nghề dệt tơ lụa. Lý Thái Tông băng năm 1054, có di chúc lập thái tử
Nhật Tôn.
3. Lý Thánh Tông, 1054 – 1072, 18 năm. Nhật Tông lên ngôi, hiệu là Lý Thánh Tông,
cải nước Giao chỉ là Đại Việt. Đời này có giặc Chiêm Thành dấy lên nữa. Vua cử binh
đi đánh chín tháng trường mà không dẹp yên được. Lúc trở về, nghe người khen ngợi
bà hoàng hậu có công trị nước, vua bèn hổ thẹn kéo binh trở lại, ra sức đánh phá
Chiêm thành.
bắt được chúa tể là Chế củ đem về nước. Sau Chế Củ phải dần châu Địa trí (Quảng
bình) và châu Ma linh (Quảng trị) mà chuộc tội.
Vua này dậy chế độ triều phục của các quan văn võ, bày đội mão, mang hia.
Lý Thánh Tông cũng là một vị nhân quân, đời người trị nước thì nhà nước được
cường thịnh.
4. Lý Nhân Tông , 1072 – 1128, 56 năm. Đời này có giặc Trung nguyên, Chàm, Chân
lạp. Vua sai Lý Thường Kiệt cầm binh đánh thắng binh Tầu mà bắt được 40.00. Lý
Nhân Tông dạy thích tự tự tha mà về nước hết. Triều nhà Tống cảm ân đức vua, bèn
rút binh về Trung nguyên.
Đời này chuộng việc học hành, có mở khoa thi chọn người thông minh để mà giúp
nước, vua lập Hàn lâm viện, sai sứ qua Tầu mua kiếm sách vở, định quan chức văn
võ, phân làm 9 phẩm, dạy đắp bờ đê mà ngừa lụt sông Nhị hà.
Lý Nhân Tông không con, truyền ngôi lại cho cháu. Lúc này binh Kim xâm lược
Trung nguyên, bắt vua Khâm Tông và Huy Tông, qua đời Nam Tống (Cao Tông)
5. Lý Thần Tông. 1128 – 1138, 10 năm. Lý Thần Tông lên ngôi, đại xá cho tù phạm và
hạ chỉ cho binh lính nghỉ thay phiên mỗi năm 6 tháng mà giúp việc canh nông. Vua lại
cấm trong hàng các quan văn võ, không đặng gả con, trước khi triều đình tuyển cung
nữ.
6. Lý Anh Tông, 1138 – 1175, 37 năm. Thiên Tộ l
 





