GTS THÁNG 10 - HÃY BIẾT YÊU THƯƠNG MẸ
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Tuoi tho khat vong

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thu Trang
Ngày gửi: 20h:42' 14-10-2025
Dung lượng: 599.3 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thu Trang
Ngày gửi: 20h:42' 14-10-2025
Dung lượng: 599.3 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Tuổi Thơ Khát Vọng
Vũ Đức Nguyên
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN MỘT Đọ sức với tử thần
PHẦN HAI Nàng tiên trên cung Quảng và con chó vàng
PHẦN BA Cuộc hành quân trong bồ
PHẦN BỐN Phố Dốc Trầu
PHẦN NĂM Thằng xẩm và chú bé què, cậu bé câm với cô bé điếc
LỜI CUỐI SÁCH
LỜI MỞ ĐẦU
Vũ Đức Nguyên với “Tuổi thơ khát vọng”
Sau lần xuất bản thứ nhất truyện “Tuổi thơ khát vọng”, cuốn sách mà tác giả viết tặng các
em nhỏ bị tật nguyền, Vũ Đức Nguyên gửi một phần tiền nhuận bút tặng trường câm điếc Xã
Đàn - Hà Nội. Buổi gặp mặt giữa tác giả cuốn sách với các em nhỏ ở đây diễn ra thật xúc động.
Tham dự buổi họp mặt hôm ấy có đại diện nhiều cơ quan, đoàn thể, có nhiều bài phát biểu
nhiệt thành. Các em nhỏ ngoan ngoãn, chăm chú lắng nghe, hân hoan vỗ tay nhưng qua ánh
mắt các em ta thấy, ở các em chưa xuất hiện những cảm xúc đặc biệt.
Nhưng khi nhận ra người được giới thiệu là nhà văn Vũ Đức Nguyên đang tập tễnh bước tới,
các em ùa lại, vây quanh, có em vén hẳn cả hai ống quần nhà văn lên để tận mắt, tận tay thấy
được đôi chân khẳng khiu, bên cao bên thấp, một bàn chân hơi vẹo, di chứng của căn bệnh bại
liệt đeo đẳng anh suốt đời. Các em líu ríu, cố diễn đạt bằng lời, bằng ngôn ngữ tay đặc biệt của
những người chưa nói được trọn lời và ánh mắt… những ánh mắt rưng rưng. Hóa ra, dù bị tật
nguyền từ bé cũng có người thành được nhà văn. Đây là nhà văn! Tác giả những tập sách mà
các em đã được thấy từ mấy hôm trước. “… Đứa vừa câm vừa điếc cầm nắm xôi đi trước, đứa
điếc cõng đứa què, dắt đứa mù lếch thếch theo sau. Chúng líu ríu bên nhau, chia sẻ với nhau
miếng xôi, mẩu sắn. Chúng khuyên nhủ, thúc ép đứa què, người duy nhất trong nhóm còn khả
năng học được phải đi học, rồi thay nhau cõng, dìu bạn đến trường…” Gấp tập sách Tuổi thơ
khát vọng lại, những hình ảnh trên cứ chập chờn trước mắt người đọc. Ta hồi hộp rồi sung
sướng thấy cảnh cưa cắt những tấm gỗ mục làm áo quan cho Vững đã chấm dứt, chú bé đã
vùng ra được khỏi tay thần chết. Ta lại chia sẻ niềm vui với Vững khi chú kéo quệt chân khó
nhọc bước được những bước đầu tiên sau hơn một năm nằm liệt giường. Tình bạn với cô bé
hàng xóm, với những trẻ tật nguyền khác đã giúp Vững vượt lên trên cảnh đời không may và
nhiều mất mát của mình. Ta xúc động đọc từ trang này đến trang khác bởi những cảnh trong
truyện là những cảnh đời rất thật, vẫn xảy ra đâu đó quanh ta, bởi lời văn mộc mạc của lối tự
truyện.
Vậy đây là tự truyện của tác giả chăng? Cuộc đời của một đứa bé tàn tật có nhiều cay đắng ê
chề, liệu viết ra có ích gì cho người đọc và người đọc có chấp nhận không? Và, trong cảnh đời
ấy, có những sự thật mà chỉ chợt nghĩ đến cổ họng đã nghẹn lại, nước mắt trào ra không sao hạ
bút xuống được. đã trăn trở rất nhiều và viết tác phẩm này rất lâu trong khi anh thường hoàn
thành những tiểu thuyết dày trang với thời gian không nhiều.
Những người viết tự truyện thường cố ý mượn trang sách để thanh minh điều gì đó trong
đời mình hoặc nêu cao những bài học về đạo lý, trung thực và khiêm tốn, hạn chế mình chỉ
phản ánh niềm khao khát được sống làm người, một người bình thường, một người nuôi nổi
mình bằng chính bàn tay mình, niềm khát vọng ấy da diết nhưng cũng là lẽ thường của một chú
bé tàn tật và những người bạn tật nguyền khác của chú.
Vì những lẽ trên, dù tác phẩm mang dấu ấn nhiều kỷ niệm của đời tác giả, nó vẫn là một
sáng tác văn học hấp dẫn của một ngòi bút trung thực, khiêm tốn và đầy tính trách nhiệm.
Cũng như chú bé Vững, còn hơn chú bé Vững, Vũ Đức Nguyên đã hai lần hất bật được tay
thần chết. Lần trước, là khi nhỏ tuổi, do căn bệnh hiểm nghèo, trong hoàn cảnh vô cùng khó
khăn thiếu thuốc, thiếu đủ thứ trong tình trạng xã hội lạc hậu. Lần sau, khi đã ở tuổi trưởng
thành nhưng vì tàn tật nên nhiều trường không muốn nhận học, không một cơ quan nào chịu
nhận cho vào làm việc. Khát vọng sống, sống và làm việc đã giúp anh vượt qua. viết văn để giãi
bày tâm sự như một nhu cầu sống. Tâm tĩnh - tuệ sáng (lòng yên tĩnh thì trí sáng suốt) một
nguyên lý của tư tưởng triết học phương Đông cao cả, với Vũ Đức Nguyên là một minh chứng.
Anh bền bỉ vượt qua mọi bất hạnh, mọi sự đố kỵ của người đời, luôn giữ cho tâm mình trong
sáng, không xao động, chính vì vậy mà ở anh sức sáng tạo phát triển mạnh mẽ, chỉ trong
khoảng mười năm anh đã cho ra đời bộ tiểu thuyết dày: Hoa dừa nước, Chuyện làng Khê, Cái
đêm ấy trên sông, Đời không yên ả, Trinh nữ, Con sóng bạc đầu, Lỡ thì và nhiều những trang
sách khác.
Viết những dòng này, chỉ với tư cách là bạn cầm bút sống gần với Vũ Đức Nguyên, tôi chân
thành chia sẻ những cảm nghĩ của mình với các bạn đọc nhỏ tuổi.
Nguyễn Văn Hoan
Tôi viết cuốn sách này là để tưởng nhớ hương hồn ông ngoại, và tặng con trai tôi, cùng các em
nhỏ tàn tật yêu thương.
Vũ Đức Nguyên
PHẦN MỘT
Đọ sức với tử thần
Không hiểu sao bỗng tôi tỉnh táo hẳn. Nhận biết mọi vật xung quanh rất rõ rệt. Tôi lấy làm
ngạc nhiên vì sao trong nhà lại có đông người đến vậy. Ông ngoại ngồi xếp bằng tròn thu lu
trên phản, sẵng giọng:
- Từ nãy đến giờ đã có đứa nào sắc nước trúc lịch cho nó uống chưa?
Mẹ tôi từ ngoài hiên bước vào, miệng lầu bầu gì đó, quẩn quanh trong nhà một tý rồi lại
bước ra ngoài sân đến chỗ mấy người mà tôi chỉ nhìn thấy loáng thoáng, đương cưa mấy
miếng gỗ, nện búa kỳ cạch.
Ông ngoại gắt lên:
- Ô hay… Mẹ thầy Thành lạ nhỉ! Thầy đã bảo là phải sắc nước trúc lịch cho nó uống thì mới
hạ đờm thở hắt ra được chứ.
Sao tôi lại phải uống nước trúc lịch để thở hắt ra nhỉ? Và nước trúc lịch là thứ gì? Có giống
nước thuốc bắc sắc trong ấm đất chắt ra từng bát mà tôi vẫn uống không?
- Đến khổ! Nó hành hạ người ta ròng rã hàng năm trời rồi còn gì…
Tôi nghe rõ tiếng mẹ nói nhấm nhẳng ở chỗ mấy người đang đóng “áo quan” vọng vào. Mấy
người này cằn nhằn về những miếng gỗ đầu thừa đuôi thẹo mục mủn hết cả. Chắc mẹ tôi nhặt
nhạnh ở đâu đó hoặc xin nhà hàng xóm. Rồi bà nói với họ:
- Thôi các bác ạ. Nhà có gì đóng nấy. Nó còn là trẻ con, đóng cái hòm bằng gỗ nào chả được,
cốt cho kín. Chứ các bác cứ… - rồi bà oà khóc. - Rõ khốn khổ cho cái thân tôi!
Tôi có cảm giác ớn lạnh suốt dọc sống lưng. Ô kìa… sao lại đóng quan tài chôn tôi xuống
đất?… Tôi mắc tội gì?… Tôi mắc tội gì mà đem chôn sống tôi?
Cha mẹ ơi, sao tôi lại không biết người chết chôn xuống đất là như thế nào. Tôi đã từng đi
xem rất nhiều đám ma, tôi đã từng nhìn thấy những người đói lăn ra chết. Giờ tôi vẫn còn nhớ
như in hồi bà ngoại qua đời. Lúc liệm bà ngoại vào quan tài, lũ cháu chắt lau nhau chúng tôi
được vào tận nơi nhìn mặt bà lần cuối cùng.
Tôi không thể nào quên được cái cảm giác lúc đó. Tôi không nhận ra được mặt bà ngoại nữa.
Bà ngoại khi còn sống mặt nom khác cơ.
Bà không ưa ba anh em chúng tôi. Vì lý do gì thì tôi chẳng biết. Song anh em tôi mỗi khi về
quê ngoại là đều quấn lấy ông bà, thích thú và vui sướng. Vậy mà bà nằm bất động trên phản,
tọp đi như thân cây cằn cỗi khô mốc, cong queo. Bà ngoại hoàn toàn thành người khác rồi.
Thành thử tôi thấy rờn rợn. Sinh khí trong con người bà siêu thoát chỉ còn để lại một cái xác
không, vô hồn, chẳng còn nổi nóng cáu gắt mỗi khi chúng tôi nô đùa nghịch ngợm nữa. Vậy mà
tôi lại sợ. Sợ đến run cả người. Lũ cháu chắt đứa nào cũng lẩy bẩy vào ngó bà ngoại rồi ù té
chạy ra bám vào người lớn.
Trống ngực đập thình thịch. Giờ tôi cũng giống như thế ư?
Cổ tôi đang bị mắc một cái gì đó ở trong ấy nên khó thở quá.
Tôi gắng lấy hết sức mình. Vẫn chỉ thấy tiếng khò khè, khò khè.
Bất lực, tôi đành nằm ì ra, nước mắt giàn giụa vì tủi thân. Rồi tôi lại lịm dần đi, thiêm thiếp
mơ màng.
Có ai đó đưa thìa cạy miệng tôi mở ra, chiêu mấy cùi thìa nước cay cay. Cứ thế, đến vài ba
lần. Tôi chẳng hay biết gì, nhưng do bản năng mà vẫn cố nuốt từng ngụm nước cay cay một
cách khó nhọc. Quả nhiên, đám đờm tắc nghẽn ở cổ họng bị thứ nước âm ấm cay cay kia làm
tan ra, rồi tuột xuống dạ dày. Vậy là tôi thở được liền. Tôi hít lấy hít để không khí vào lồng
ngực. Bầu không khí như có phép lạ, như liều thuốc tiên, chui vào buồng phổi trong ngực tôi,
vực sự sống đang hấp hối như đám lửa tàn sáng bừng lên. Để rồi tôi dần dần tỉnh táo lại.
Ông ngoại đương bước lại giường tôi nằm kia kìa. Tôi giương tròn đôi mắt nhìn ông. Ông
ngoại không nói gì, lặng lẽ sờ vào cổ tay tôi xem mạch, bẹo bẹo vào bàn chân rồi lên hai cổ
chân. Tôi không thấy có cảm giác gì, như chưa hề có ai bẹo cấu vào chân mình, nằm ì ra hệt cái
xác không hồn, không sự sống.
Lúc quay trở ra cái phản mà ông ngoại vẫn ngồi, ông nói khe khẽ, như nói với chính mình,
cho một mình nghe:
- Chết từ chân lên rồi…
Ông ngoại ngồi xuống phản, co chân lên xếp bằng tròn như cũ. Rồi ông kéo cái điếu bát lại
gần chỗ mình, mồi thuốc, châm lửa hút. Cái điếu bát rít lên sòng sọc một tràng dài đanh tiếng.
Nhả khói ra, ông lại ngồi im lặng, giống như pho tượng trong đền mà tôi đã nhìn thấy trong dịp
đi hội Phủ Giầy. Tôi bắt đầu chết rồi hay sao? Chết từ chân lên rồi! Nghe ông ngoại nói thế, tôi
bèn thử co hai chân lại xem sao. Không tài nào nhúc nhích cử động được.
Hay là ngọ nguậy mấy ngón chân vậy. Cũng vẫn cứng đơ ra. Tôi chẳng hề thấy bất kỳ một
thứ cảm giác nào từ hai bàn chân truyền lên cả. Chao ôi… khủng khiếp biết chừng nào! Tôi
đang chết. Chết thật. Giống như bà ngoại mất rồi. Tôi bắt đầu đi vào cõi chết từ hai bàn chân
thực rồi. Và lúc này, không hiểu sao tôi lại tỉnh táo đến vậy. Mọi việc xảy ra quanh mình ở trong
cái nhà này, tôi đều nhận biết và phân biệt được một cách rõ rệt. Trí nhớ vụt lóe sáng khơi dậy
tiềm thức trong tôi hiện ra trước mắt những gì mà trí khôn của một đứa trẻ lên tám chín tuổi
ghi nhận được từ bấy lâu nay, cái lờ mờ phảng phất, cái đậm nét rõ ràng. Sự sống còn lại chút
nào trong người tôi chợt bùng lên trong giây phút cuối cùng để rồi tắt ngấm chăng?
***
Hẳn trời đã tối lắm rồi nên ánh sáng từ chiếc đèn hoa kỳ tỏa ra tù mù giống như ánh sáng
phát ra từ bụng con đom đóm bay giữa ao bèo.
Trong nhà bỗng ồn ào. Tôi cố ngoái đầu nhìn ra. Anh Thành và thằng Bền vào trong làng Hệ
Dưỡng vừa về đang rối rít khoe ông ngoại gói xôi của nhà cô Thắm gửi biếu. Chắc nhà cô Thắm
đồ xôi thắp hương vào ngày mồng Một đầu tháng đây. Gia đình tôi thường qua lại nhà cô vì cô
là cán bộ đoàn thể của xã. Cha tôi làm cán bộ kháng chiến hoạt động ở vùng này nên mới đưa
mẹ con tôi từ quê ngoại tản cư vào đây.
Nghe nói có xôi, tự dưng tôi thấy đói và thèm ăn đến thế. Rõ ràng gần một năm trời ốm đau
tôi không hề muốn ăn một thứ gì.
Mỗi ngày chỉ cố nuốt mấy thìa nước cháo. Có lẽ sự sống kéo dài được như vậy chắc chắn là
nhờ thuốc bắc. Tôi uống liên tục như uống nước vối. Giờ bỗng tôi lại thấy đói có kỳ không? Tôi
gắng sức vươn cánh tay gầy guộc hệt hai đoạn nứa tép nối với nhau chơi vơi trong không gian,
xòe năm ngón tay xương xẩu ra xin:
- Anh Thành ơi… cho em ăn xôi với!
Mẹ tôi ở ngoài sân bước vào nghe thấy vậy, liền gắt:
- Sắp chết mà vẫn còn đòi ăn à?
Như chạm phải lửa, tôi co giật cánh tay gầy guộc đang chới với của mình vào, rã rời tự nó
rơi bộp xuống giường. Trái tim tôi như có sợi dây thắt chặt lại, nhói đau, tủi hờn. Tôi quay mặt
vào bức vách, mặc kệ cho nước mắt ứa ra giàn giụa.
Chợt có tiếng ông ngoại quát:
- Mẹ thằng Thành nói với con như vậy hả?
Rồi ông dịu giọng:
- Cháu Thành của ông đâu rồi nào?
- Dạ cháu ở đây… - anh Thành từ ngoài hiên bước vào.
- Cháu đem xôi vào cho em Vững ăn đi.
- Eo! Em Vững sắp chết rồi ông ạ.
- Thì cháu cứ đem vào cho em nó ăn với, kẻo tội.
- Ứ…
Thành đứng tần ngần. Từ bé anh ấy vốn đã có tính ăn tham.
Mẹ tôi vẫn thường nhắc lại chuyện hồi anh Thành mới lên bốn.
Một hôm ăn cơm, mâm cơm chỉ có một đĩa con thịt rang. Bố tôi thò đũa gắp một miếng.
Thành nhìn thấy òa lên khóc liền, miệng gào thét lên:
- “Giả thịt con đây, giả thịt con đây!…”
- Mang vào cho em ăn đi chứ! - Ông ngoại lại giục.
Anh Thành vẫn cứ đứng tần ngần. Thằng Bền thấy thế liền chạy vào giơ nắm xôi trước mặt:
- Ông ơi! Cháu cho anh Vững nắm xôi của cháu nhé.
Vậy là anh Thành được gỡ bí, nhảy tót ra ngoài hiên. Nói rồi thằng Bền chạy lon ton tới bên
giường tôi. Nó mới hơn năm tuổi nên chưa thể biết chuyện tôi đang chết dần từ chân lên sẽ ra
làm sao. Bởi thế nó đâu có sợ. Nó lay người tôi, miệng reo to:
- Anh Vững ơi, dậy ăn xôi này…
Thằng Bền dúi vào tay tôi nắm xôi. Tôi không thể nào cựa quậy để nhấc mình ngồi lên được.
Hai chân tôi lúc này như đôi ống giang, cứng đờ, nặng trịch, không chút cảm giác. Tôi nằm
ngửa và nhét từng dúm xôi vào miệng, nhai ngấu nghiến đến ngon lành.
Thằng Bền ngó gần sát xem tôi ăn xôi một lúc rồi chạy ra ngoài hiên khoe:
- Mẹ ơi!… Anh Vững ăn xôi ngon lắm!
Mẹ tôi đang mải giần gạo, không rõ nói với nó hay nói với ai:
- Chắc ăn giả bữa rồi chết thôi.
Tôi mải ăn nên không bận lòng đến những lời nói đó. Xôi ngon thật. Tôi chưa bao giờ thấy
thòm thèm như lúc này.
Ông ngoại vẫn ngồi xếp bằng tròn thu lu trên phản. Ánh đèn dầu lù mù nên nhìn ông như
một cái bóng đen sẫm, lù lù.
No bụng, trong người tôi cảm thấy dễ chịu lạ thường. Thằng Bền lại vào leo lên giường, ngồi
với tôi. Đến khi mẹ tôi trông thấy, bà quát luôn:
- Bền! Có ra ngoài đi không? Mày muốn lây bệnh chết theo nó à?
Giật mình, thằng Bền ngó lại vào mặt tôi, tò mò, khó hiểu. Tôi vẫn nằm im trước mặt nó đây.
Tôi là anh nó, vẫn thường cõng nó đi chơi dạo nào. Vậy mà ngồi với tôi sẽ lây bệnh chết theo.
Người ta sẽ mang ra chôn ở ngoài bãi tha ma. Ma là gì nhỉ? Thằng Bền nào có biết. Nhưng mỗi
khi người ta dứ ma là nó sợ. Nó hình dung ma là con vật quái dị và độc ác lắm. Hẳn vì thế mà hễ
trẻ con hờn quấy là các bà mẹ, bà chị ẵm trẻ con đều lấy ma ra để dọa.
Như vậy thì anh Vững của nó sẽ thành ma. Ai chết mà chả hóa ra ma. Thế thì khiếp quá!
Nghĩ sao đó bỗng nó nhìn tôi chằm chằm, lùi đít ra mép giường, tụt xuống. Vẫn không rời mắt
nhìn tôi, đi giật lùi. Như gặp quái vật, đứa trẻ vừa nhìn thẳng sợ hãi đón chờ tai họa, vừa lùi
bước tìm đường thoát thân. Gần đến cửa, nó ù té quay ra ôm chầm lấy mẹ tôi, hoảng hốt và
kinh hãi.
Tôi vẫn cứ nằm ngửa, duỗi thẳng hai chân cứng nhắc, giá lạnh không còn thấy cảm giác gì
nữa, nhìn lên mái nhà tối om.
Không rõ giấc ngủ kéo đến hay là tôi lại thiếp lịm đi, hay là đích thị Tử Thần đã hiện ra lấn
dần từng bước. Khi đã cướp xong đôi chân, liền bắt đầu nuốt tới phần thân xác tôi vào miệng
Cái Chết.
Toàn thân tôi chợt nhẹ bẫng. Tôi có cảm giác như mình đang bồng bềnh trôi nổi chơi vơi
giữa khoảng không. Tôi chết thật đến nơi rồi.
Tiếng búa đóng đanh ghép quan tài cành cạch ở ngoài sân vọng vào như tiếng mõ ngoài
chùa, mờ tỏ, huyền hoặc, xa xôi, hư ảo. Tôi nào có hay biết gì đâu. Thân xác hay linh hồn tôi
bay bổng, lượn lờ. Ngọn đèn dầu để giữa phản nơi ông ngoại đang ngồi, ai đó hay chính ông
ngoại đã vặn nhỏ lại, đốm lửa bé bằng hạt đỗ xanh tỏa thứ ánh sáng lờ mờ nhợt nhạt, khiến cho
không gian trong nhà nhập nhoạng, tối tăm.
Ngoài trời, gió ào ào về từng đợt từng đợt, đập vào vách núi Ngang, lật những tấm gianh lợp
trên mái nhà chốc chốc lại loạt xoạt.
Đêm.
Cả vùng núi đá vôi chìm vào đêm tối, tĩnh mịch, thẳm sâu, hoang dã, chứa chất bao điều bí
ẩn. Đúng như trong các truyện cổ tích mà lũ trẻ con chúng tôi vẫn thường nghe ông ngoại kể
vào những buổi tối có trăng trong những dịp hè về thăm quê hàng năm.
Tôi đang trong giây phút “ra đi” về nơi thiên cổ nên không thấy có một ai vào với tôi nữa.
Mọi người đều đã lên giường đi ngủ cả rồi. Chỉ có mình ông ngoại là vẫn còn thức, cứ ngồi thu
lu trên phản như cái cây già cỗi ủ rũ chờ ngày tàn lụi hẳn. Ông ngoại đã ngoài sáu mươi tuổi
rồi. Vóc người vốn nhỏ nhắn, về già càng tọp đi, gân guốc và khắc khổ. Vốn là một nhà nho hay
chữ trong làng nên có đọc một số sách thuốc. Ông không làm thầy lang kiếm tiền, nhưng bà con
họ hàng hay láng giềng có người nào đau ốm đến nhờ cậy, ông sẵn lòng đến thăm con bệnh, bắt
mạch kê đơn cho họ đi cắt thuốc. Hẳn lúc này, trước tính mạng đứa cháu ngoại mà phải chịu bó
tay buông cho Tử Thần cướp nó đi thì lòng ông đau đớn lắm.
Ông ngoại vẫn cứ ngồi lặng thầm suy tư trong bóng tối. Là người có đông con, lắm cháu.
Nhưng trong thâm tâm, ông ngoại dành tình yêu thương cho người con gái thứ năm này. Bởi
trong số những đứa con kể từ các con vợ cả đến các con vợ ba, nó là người chất phác thật thà.
Năm nó mười tám tuổi, ông cho con gái đi lấy chồng. Chàng rể quê ở mãi ngoài tỉnh Hà Đông.
Nhà nghèo phải đi kiếm sống từ thuở mười lăm, mười sáu. Ông thuận ưng, thậm chí còn giấu
vợ cùng các con mình, giúi tiền cho chàng rể tương lai lo đồ sính lễ. Ơn trời nó là một trong
những chàng rể tốt nhất trong số các con rể của ông, lại là người lanh lợi, có chí tiến thủ nên ăn
ở trong họ ngoài làng ai ai cũng yêu thương quý mến.
Ông những mừng. Tuy nhiên cũng phải nói thật, hồi vợ ông còn sống, bà ấy thương con gái
theo cái kiểu đàn bà nhà quê, mắt chưa bao giờ nhìn vượt khỏi cái bờ dậu cúc tần nhà mình.
Thấy cây mà chẳng thấy rừng. Chỉ ham cho con vào những nhà có của. Nên bà ấy chê thằng
chồng nó nghèo, đối xử có phần tệ bạc với con. Giờ con rể ông theo cách mạng, làm cán bộ
thoát ly hoạt động cho kháng chiến. Con gái ông ở nhà một nách ba đứa con mọn. Ông không
lưu tâm chăm nom con cháu sao được. Hơn nữa, ba đứa cháu ngoại này đều được sinh ra và
lớn lên trên quê mẹ nó nên ông biết rõ từng đứa. Bởi vậy, khi nghe tin thằng Vững ốm, tuy
người đang mệt, ông vẫn bắt thằng Tùng với con Thảo (là những người con còn đang sống với
ông) võng vào thăm bệnh cho cháu.
Nó là đứa khôi ngô linh lợi nhất trong ba thằng cháu ngoại này.
Giờ ông đành chịu bó tay… Như thế có nghĩa là bất lực đứng nhìn thằng cháu chết. Nó mà
chết thật thì chắc chắn, ông sẽ buồn lòng rồi không khéo chết theo cháu cũng nên. Ông ngoại
vẫn còn ngồi lặng người như chìm vào bóng tối, suy ngẫm một mình. Ông những giận con gái.
Ừ thì cái chuyện con cái nó ốm đau ròng rã một năm trời, chạy chữa thuốc men mất đứt đi mấy
lứa lợn thật. Thời buổi chiến tranh loạn lạc làm ăn kiếm ra đồng bạc nào có dễ, lại còn phải
chăm sóc đứa trẻ đau ốm, hờn quấy cũng vất vả mà vẫn không cứu chữa nổi, ai chả xót thương.
Nhiều khi cáu bẳn. Chẳng những thế, nó lại là đứa con nuôi. Con nuôi nhưng lại còn hơn con
đẻ. Bởi bố mẹ nó đều đi làm cách mạng, sinh con trong nhà tù. Ngày Việt Minh cướp chính
quyền đã kịp thời chiếm ngay nhà giam, giải thoát được hai mẹ con. Nhưng chẳng bao lâu thì
người mẹ qua đời bởi kiệt sức. Bố thằng bé thì bị giặc đầy đi Côn Đảo không biết sống chết ra
sao. Là bạn cùng hoạt động, con rể ông đã nhận đứa bé về, thuyết phục vợ nuôi. Âu cũng là cái
số kiếp nó vào nhờ cậy cửa nhà mình. Chẳng lộc của thì cũng lộc con trời cho. Quả nhiên con
gái ông đẻ sòn sòn, toàn con trai cả.
Thằng Vững lớn lên sống hòa mình với lũ cháu ông, không một ai trong nhà được phép cho
nó biết sự thật. Và rồi “bố mẹ” cũng như chú bác, cậu dì không hề bận tâm tới tông tích nó nữa,
coi nó đích thị là con đẻ, cháu ruột của mình. Vậy đã thương thì thương cho trót. Đằng này…
Giờ nó sắp chết rồi. Đạo lý của người làm cha làm mẹ sống ở đời sao lại nỡ nói năng cay nghiệt
với con cái thế? Mà nào nó có làm nên tội tình gì. Nay ông trời bắt nó “đi” về với bố mẹ nó nơi
“chín suối”, đành phải cắn răng chịu đựng chứ biết làm sao.
Ngẫm ngợi gì đấy, chợt ông lắc đầu lẩm bẩm một mình: “Nó cạn nghĩ như mẹ nó ngày xưa
vậy. Thương chồng thương con nhưng thiển cận và xốc nổi quá!”
Đêm chuyển dần về sáng. ở vùng núi, mùa hè cũng vậy, đêm bao giờ cũng lành lạnh. Thức
mãi chắc là mệt mỏi lắm rồi. Ông ngoại vặn ngọn đèn dầu cho đốm lửa đều bấc to lên, ánh sáng
bừng thêm một chút. Ông khẽ lần bước đến giường tôi nằm, đưa tay lên sờ nắn khắp người
thằng cháu bé bỏng đã bén sâu vào lòng yêu thương của ông. “Không lẽ nó lại chết ư?” Thoáng
trong đầu ông câu hỏi. Ông đứng lặng yên nhìn tôi hồi lâu. Không nói gì. Rồi ông lặng lẽ quay ra,
thu dọn điếu bát, ấm tích và đĩa chén, lấy cái gối mây đặt xuống phản ngả lưng nằm.
Ngọn đèn dầu lẫn vào bóng đêm bởi đốm lửa ở đầu bấc chỉ còn bé tí nhờ nhờ xanh xanh như
ánh lân tinh ngoài bãi tha ma.
Chỉ có gió là không ngủ, vẫn thức đập vào chái hồi, đập vào vách núi hun hút, loạt xoạt.
Rõ ràng là tôi không chết nên mọi sự việc đều được lưu giữ trong trí nhớ. Sự sống trong con
người tôi chỉ còn thoi thóp ở trái tim bé nhỏ, yếu đuối. Thỉnh thoảng nó mới gắng gõ một nhịp
đến là khó khăn, cố sức đẩy chút máu có trong cơ thể lên nuôi bộ óc. Để tôi có thể sống trong
một giấc mơ kỳ lạ và khó hiểu. Cho đến bây giờ tôi vẫn không hay biết một tí gì về sự thật con
người tôi. Mới tám chín tuổi đầu, tâm hồn còn thơ trẻ nên tôi không hề bận tâm về bất cứ một
sự bí ẩn nào. Tôi đinh ninh mình được sống trong gia đình với bố mẹ và anh em ấm êm, hòa
thuận như bất kỳ một đứa trẻ nào. Đến tuổi học hành được cắp sách đến trường.
Gia đình tôi vốn làm ăn sinh sống ở thị xã Ninh Bình. Sau mấy lần chạy tản cư loanh quanh,
luẩn quẩn. Gồng gánh chạy ra vùng Thượng Đồng, rồi lại bồng bế nhau đi vào thị trấn Cầu Cừ
tỉnh Thanh Hóa. Ở đó không được bao lâu lại trở ra làng Bộ Đầu giáp cầu Yên là quê mẹ tôi. Mẹ
tôi thôi không bán thuốc lào mà chuyển sang mở hàng xén bán ở phố ga Cầu Yên. Phố ga khá
đông vui, chạy từ mố cầu phía nam vào tới khu nhà ga hỏa xa, phải tới hơn cây số. Bên kia
đường sắt là cánh đồng chiêm bao bọc lấy làng Đông Trang. Bên này đường nhựa là nhà cửa,
phố xá với đủ các hàng quán, cửa hiệu, đằng sau liền với làng Bộ Đầu. Ông ngoại tôi cũng có
một ngôi nhà ngói hai gian ở mặt phố.
Giặc Pháp chiếm đóng dưới Phát Diệm, xây bốt ở núi Sậu, thỉnh thoảng lại đi càn quét quanh
vùng, cướp bóc của cải, gạo thóc, trâu bò gà lợn và phá phong trào du kích, hoặc câu đại bác lên
vùng ven thị xã Ninh Bình. Mà quê ngoại tôi cách thị xã có năm sáu cây số là cùng. Nếu tính
theo đường chim bay thì còn ngắn hơn nhiều. Thành thử lắm khi đạn lạc xuống. Đã có mấy nhà
ở dãy phố Cầu Yên trúng đạn rồi. Mẹ tôi mới đành đưa gia đình vào ở núi Ngang thuộc xứ đạo
Hệ Dưỡng để tránh bom đạn. Cũng có nhiều gia đình ở phố Cầu Yên chạy vào. Đông vui và
thành xóm Núi Ngang. Xóm Núi Ngang nhà nào cũng dựng một đầu hồi nhà áp sát vách núi để
tiện khi tàu bay Pháp có đến oanh tạc thì chạy vào hang ẩn nấp cho nhanh. Đầu hồi kia chĩa ra
phía cánh đồng chiêm trũng.
Những đứa trẻ lớn bằng tôi trở lên đều đi học. Vào học tận trong làng Hệ Dưỡng ấy. Lớp học
mở ở chùa của dân bên “đời” dựng dưới chân núi giáp làng. Từ ngôi chùa đến nhà thờ xứ đạo
cũng rất gần.
Thầy giáo dạy tôi là một ông y tá đã ngoài bốn mươi tuổi, tên là Kỳ. Không rõ vì lý do gì mà
ông bỏ nhà thương trên thị xã Ninh Bình về làng sống với vợ con. Đoàn thể mời ông ra dạy
đám trẻ con học chữ.
Tôi là đứa học trò chăm chỉ và cũng sáng dạ nên được thầy giáo yêu mến.
Vũ Đức Nguyên
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN MỘT Đọ sức với tử thần
PHẦN HAI Nàng tiên trên cung Quảng và con chó vàng
PHẦN BA Cuộc hành quân trong bồ
PHẦN BỐN Phố Dốc Trầu
PHẦN NĂM Thằng xẩm và chú bé què, cậu bé câm với cô bé điếc
LỜI CUỐI SÁCH
LỜI MỞ ĐẦU
Vũ Đức Nguyên với “Tuổi thơ khát vọng”
Sau lần xuất bản thứ nhất truyện “Tuổi thơ khát vọng”, cuốn sách mà tác giả viết tặng các
em nhỏ bị tật nguyền, Vũ Đức Nguyên gửi một phần tiền nhuận bút tặng trường câm điếc Xã
Đàn - Hà Nội. Buổi gặp mặt giữa tác giả cuốn sách với các em nhỏ ở đây diễn ra thật xúc động.
Tham dự buổi họp mặt hôm ấy có đại diện nhiều cơ quan, đoàn thể, có nhiều bài phát biểu
nhiệt thành. Các em nhỏ ngoan ngoãn, chăm chú lắng nghe, hân hoan vỗ tay nhưng qua ánh
mắt các em ta thấy, ở các em chưa xuất hiện những cảm xúc đặc biệt.
Nhưng khi nhận ra người được giới thiệu là nhà văn Vũ Đức Nguyên đang tập tễnh bước tới,
các em ùa lại, vây quanh, có em vén hẳn cả hai ống quần nhà văn lên để tận mắt, tận tay thấy
được đôi chân khẳng khiu, bên cao bên thấp, một bàn chân hơi vẹo, di chứng của căn bệnh bại
liệt đeo đẳng anh suốt đời. Các em líu ríu, cố diễn đạt bằng lời, bằng ngôn ngữ tay đặc biệt của
những người chưa nói được trọn lời và ánh mắt… những ánh mắt rưng rưng. Hóa ra, dù bị tật
nguyền từ bé cũng có người thành được nhà văn. Đây là nhà văn! Tác giả những tập sách mà
các em đã được thấy từ mấy hôm trước. “… Đứa vừa câm vừa điếc cầm nắm xôi đi trước, đứa
điếc cõng đứa què, dắt đứa mù lếch thếch theo sau. Chúng líu ríu bên nhau, chia sẻ với nhau
miếng xôi, mẩu sắn. Chúng khuyên nhủ, thúc ép đứa què, người duy nhất trong nhóm còn khả
năng học được phải đi học, rồi thay nhau cõng, dìu bạn đến trường…” Gấp tập sách Tuổi thơ
khát vọng lại, những hình ảnh trên cứ chập chờn trước mắt người đọc. Ta hồi hộp rồi sung
sướng thấy cảnh cưa cắt những tấm gỗ mục làm áo quan cho Vững đã chấm dứt, chú bé đã
vùng ra được khỏi tay thần chết. Ta lại chia sẻ niềm vui với Vững khi chú kéo quệt chân khó
nhọc bước được những bước đầu tiên sau hơn một năm nằm liệt giường. Tình bạn với cô bé
hàng xóm, với những trẻ tật nguyền khác đã giúp Vững vượt lên trên cảnh đời không may và
nhiều mất mát của mình. Ta xúc động đọc từ trang này đến trang khác bởi những cảnh trong
truyện là những cảnh đời rất thật, vẫn xảy ra đâu đó quanh ta, bởi lời văn mộc mạc của lối tự
truyện.
Vậy đây là tự truyện của tác giả chăng? Cuộc đời của một đứa bé tàn tật có nhiều cay đắng ê
chề, liệu viết ra có ích gì cho người đọc và người đọc có chấp nhận không? Và, trong cảnh đời
ấy, có những sự thật mà chỉ chợt nghĩ đến cổ họng đã nghẹn lại, nước mắt trào ra không sao hạ
bút xuống được. đã trăn trở rất nhiều và viết tác phẩm này rất lâu trong khi anh thường hoàn
thành những tiểu thuyết dày trang với thời gian không nhiều.
Những người viết tự truyện thường cố ý mượn trang sách để thanh minh điều gì đó trong
đời mình hoặc nêu cao những bài học về đạo lý, trung thực và khiêm tốn, hạn chế mình chỉ
phản ánh niềm khao khát được sống làm người, một người bình thường, một người nuôi nổi
mình bằng chính bàn tay mình, niềm khát vọng ấy da diết nhưng cũng là lẽ thường của một chú
bé tàn tật và những người bạn tật nguyền khác của chú.
Vì những lẽ trên, dù tác phẩm mang dấu ấn nhiều kỷ niệm của đời tác giả, nó vẫn là một
sáng tác văn học hấp dẫn của một ngòi bút trung thực, khiêm tốn và đầy tính trách nhiệm.
Cũng như chú bé Vững, còn hơn chú bé Vững, Vũ Đức Nguyên đã hai lần hất bật được tay
thần chết. Lần trước, là khi nhỏ tuổi, do căn bệnh hiểm nghèo, trong hoàn cảnh vô cùng khó
khăn thiếu thuốc, thiếu đủ thứ trong tình trạng xã hội lạc hậu. Lần sau, khi đã ở tuổi trưởng
thành nhưng vì tàn tật nên nhiều trường không muốn nhận học, không một cơ quan nào chịu
nhận cho vào làm việc. Khát vọng sống, sống và làm việc đã giúp anh vượt qua. viết văn để giãi
bày tâm sự như một nhu cầu sống. Tâm tĩnh - tuệ sáng (lòng yên tĩnh thì trí sáng suốt) một
nguyên lý của tư tưởng triết học phương Đông cao cả, với Vũ Đức Nguyên là một minh chứng.
Anh bền bỉ vượt qua mọi bất hạnh, mọi sự đố kỵ của người đời, luôn giữ cho tâm mình trong
sáng, không xao động, chính vì vậy mà ở anh sức sáng tạo phát triển mạnh mẽ, chỉ trong
khoảng mười năm anh đã cho ra đời bộ tiểu thuyết dày: Hoa dừa nước, Chuyện làng Khê, Cái
đêm ấy trên sông, Đời không yên ả, Trinh nữ, Con sóng bạc đầu, Lỡ thì và nhiều những trang
sách khác.
Viết những dòng này, chỉ với tư cách là bạn cầm bút sống gần với Vũ Đức Nguyên, tôi chân
thành chia sẻ những cảm nghĩ của mình với các bạn đọc nhỏ tuổi.
Nguyễn Văn Hoan
Tôi viết cuốn sách này là để tưởng nhớ hương hồn ông ngoại, và tặng con trai tôi, cùng các em
nhỏ tàn tật yêu thương.
Vũ Đức Nguyên
PHẦN MỘT
Đọ sức với tử thần
Không hiểu sao bỗng tôi tỉnh táo hẳn. Nhận biết mọi vật xung quanh rất rõ rệt. Tôi lấy làm
ngạc nhiên vì sao trong nhà lại có đông người đến vậy. Ông ngoại ngồi xếp bằng tròn thu lu
trên phản, sẵng giọng:
- Từ nãy đến giờ đã có đứa nào sắc nước trúc lịch cho nó uống chưa?
Mẹ tôi từ ngoài hiên bước vào, miệng lầu bầu gì đó, quẩn quanh trong nhà một tý rồi lại
bước ra ngoài sân đến chỗ mấy người mà tôi chỉ nhìn thấy loáng thoáng, đương cưa mấy
miếng gỗ, nện búa kỳ cạch.
Ông ngoại gắt lên:
- Ô hay… Mẹ thầy Thành lạ nhỉ! Thầy đã bảo là phải sắc nước trúc lịch cho nó uống thì mới
hạ đờm thở hắt ra được chứ.
Sao tôi lại phải uống nước trúc lịch để thở hắt ra nhỉ? Và nước trúc lịch là thứ gì? Có giống
nước thuốc bắc sắc trong ấm đất chắt ra từng bát mà tôi vẫn uống không?
- Đến khổ! Nó hành hạ người ta ròng rã hàng năm trời rồi còn gì…
Tôi nghe rõ tiếng mẹ nói nhấm nhẳng ở chỗ mấy người đang đóng “áo quan” vọng vào. Mấy
người này cằn nhằn về những miếng gỗ đầu thừa đuôi thẹo mục mủn hết cả. Chắc mẹ tôi nhặt
nhạnh ở đâu đó hoặc xin nhà hàng xóm. Rồi bà nói với họ:
- Thôi các bác ạ. Nhà có gì đóng nấy. Nó còn là trẻ con, đóng cái hòm bằng gỗ nào chả được,
cốt cho kín. Chứ các bác cứ… - rồi bà oà khóc. - Rõ khốn khổ cho cái thân tôi!
Tôi có cảm giác ớn lạnh suốt dọc sống lưng. Ô kìa… sao lại đóng quan tài chôn tôi xuống
đất?… Tôi mắc tội gì?… Tôi mắc tội gì mà đem chôn sống tôi?
Cha mẹ ơi, sao tôi lại không biết người chết chôn xuống đất là như thế nào. Tôi đã từng đi
xem rất nhiều đám ma, tôi đã từng nhìn thấy những người đói lăn ra chết. Giờ tôi vẫn còn nhớ
như in hồi bà ngoại qua đời. Lúc liệm bà ngoại vào quan tài, lũ cháu chắt lau nhau chúng tôi
được vào tận nơi nhìn mặt bà lần cuối cùng.
Tôi không thể nào quên được cái cảm giác lúc đó. Tôi không nhận ra được mặt bà ngoại nữa.
Bà ngoại khi còn sống mặt nom khác cơ.
Bà không ưa ba anh em chúng tôi. Vì lý do gì thì tôi chẳng biết. Song anh em tôi mỗi khi về
quê ngoại là đều quấn lấy ông bà, thích thú và vui sướng. Vậy mà bà nằm bất động trên phản,
tọp đi như thân cây cằn cỗi khô mốc, cong queo. Bà ngoại hoàn toàn thành người khác rồi.
Thành thử tôi thấy rờn rợn. Sinh khí trong con người bà siêu thoát chỉ còn để lại một cái xác
không, vô hồn, chẳng còn nổi nóng cáu gắt mỗi khi chúng tôi nô đùa nghịch ngợm nữa. Vậy mà
tôi lại sợ. Sợ đến run cả người. Lũ cháu chắt đứa nào cũng lẩy bẩy vào ngó bà ngoại rồi ù té
chạy ra bám vào người lớn.
Trống ngực đập thình thịch. Giờ tôi cũng giống như thế ư?
Cổ tôi đang bị mắc một cái gì đó ở trong ấy nên khó thở quá.
Tôi gắng lấy hết sức mình. Vẫn chỉ thấy tiếng khò khè, khò khè.
Bất lực, tôi đành nằm ì ra, nước mắt giàn giụa vì tủi thân. Rồi tôi lại lịm dần đi, thiêm thiếp
mơ màng.
Có ai đó đưa thìa cạy miệng tôi mở ra, chiêu mấy cùi thìa nước cay cay. Cứ thế, đến vài ba
lần. Tôi chẳng hay biết gì, nhưng do bản năng mà vẫn cố nuốt từng ngụm nước cay cay một
cách khó nhọc. Quả nhiên, đám đờm tắc nghẽn ở cổ họng bị thứ nước âm ấm cay cay kia làm
tan ra, rồi tuột xuống dạ dày. Vậy là tôi thở được liền. Tôi hít lấy hít để không khí vào lồng
ngực. Bầu không khí như có phép lạ, như liều thuốc tiên, chui vào buồng phổi trong ngực tôi,
vực sự sống đang hấp hối như đám lửa tàn sáng bừng lên. Để rồi tôi dần dần tỉnh táo lại.
Ông ngoại đương bước lại giường tôi nằm kia kìa. Tôi giương tròn đôi mắt nhìn ông. Ông
ngoại không nói gì, lặng lẽ sờ vào cổ tay tôi xem mạch, bẹo bẹo vào bàn chân rồi lên hai cổ
chân. Tôi không thấy có cảm giác gì, như chưa hề có ai bẹo cấu vào chân mình, nằm ì ra hệt cái
xác không hồn, không sự sống.
Lúc quay trở ra cái phản mà ông ngoại vẫn ngồi, ông nói khe khẽ, như nói với chính mình,
cho một mình nghe:
- Chết từ chân lên rồi…
Ông ngoại ngồi xuống phản, co chân lên xếp bằng tròn như cũ. Rồi ông kéo cái điếu bát lại
gần chỗ mình, mồi thuốc, châm lửa hút. Cái điếu bát rít lên sòng sọc một tràng dài đanh tiếng.
Nhả khói ra, ông lại ngồi im lặng, giống như pho tượng trong đền mà tôi đã nhìn thấy trong dịp
đi hội Phủ Giầy. Tôi bắt đầu chết rồi hay sao? Chết từ chân lên rồi! Nghe ông ngoại nói thế, tôi
bèn thử co hai chân lại xem sao. Không tài nào nhúc nhích cử động được.
Hay là ngọ nguậy mấy ngón chân vậy. Cũng vẫn cứng đơ ra. Tôi chẳng hề thấy bất kỳ một
thứ cảm giác nào từ hai bàn chân truyền lên cả. Chao ôi… khủng khiếp biết chừng nào! Tôi
đang chết. Chết thật. Giống như bà ngoại mất rồi. Tôi bắt đầu đi vào cõi chết từ hai bàn chân
thực rồi. Và lúc này, không hiểu sao tôi lại tỉnh táo đến vậy. Mọi việc xảy ra quanh mình ở trong
cái nhà này, tôi đều nhận biết và phân biệt được một cách rõ rệt. Trí nhớ vụt lóe sáng khơi dậy
tiềm thức trong tôi hiện ra trước mắt những gì mà trí khôn của một đứa trẻ lên tám chín tuổi
ghi nhận được từ bấy lâu nay, cái lờ mờ phảng phất, cái đậm nét rõ ràng. Sự sống còn lại chút
nào trong người tôi chợt bùng lên trong giây phút cuối cùng để rồi tắt ngấm chăng?
***
Hẳn trời đã tối lắm rồi nên ánh sáng từ chiếc đèn hoa kỳ tỏa ra tù mù giống như ánh sáng
phát ra từ bụng con đom đóm bay giữa ao bèo.
Trong nhà bỗng ồn ào. Tôi cố ngoái đầu nhìn ra. Anh Thành và thằng Bền vào trong làng Hệ
Dưỡng vừa về đang rối rít khoe ông ngoại gói xôi của nhà cô Thắm gửi biếu. Chắc nhà cô Thắm
đồ xôi thắp hương vào ngày mồng Một đầu tháng đây. Gia đình tôi thường qua lại nhà cô vì cô
là cán bộ đoàn thể của xã. Cha tôi làm cán bộ kháng chiến hoạt động ở vùng này nên mới đưa
mẹ con tôi từ quê ngoại tản cư vào đây.
Nghe nói có xôi, tự dưng tôi thấy đói và thèm ăn đến thế. Rõ ràng gần một năm trời ốm đau
tôi không hề muốn ăn một thứ gì.
Mỗi ngày chỉ cố nuốt mấy thìa nước cháo. Có lẽ sự sống kéo dài được như vậy chắc chắn là
nhờ thuốc bắc. Tôi uống liên tục như uống nước vối. Giờ bỗng tôi lại thấy đói có kỳ không? Tôi
gắng sức vươn cánh tay gầy guộc hệt hai đoạn nứa tép nối với nhau chơi vơi trong không gian,
xòe năm ngón tay xương xẩu ra xin:
- Anh Thành ơi… cho em ăn xôi với!
Mẹ tôi ở ngoài sân bước vào nghe thấy vậy, liền gắt:
- Sắp chết mà vẫn còn đòi ăn à?
Như chạm phải lửa, tôi co giật cánh tay gầy guộc đang chới với của mình vào, rã rời tự nó
rơi bộp xuống giường. Trái tim tôi như có sợi dây thắt chặt lại, nhói đau, tủi hờn. Tôi quay mặt
vào bức vách, mặc kệ cho nước mắt ứa ra giàn giụa.
Chợt có tiếng ông ngoại quát:
- Mẹ thằng Thành nói với con như vậy hả?
Rồi ông dịu giọng:
- Cháu Thành của ông đâu rồi nào?
- Dạ cháu ở đây… - anh Thành từ ngoài hiên bước vào.
- Cháu đem xôi vào cho em Vững ăn đi.
- Eo! Em Vững sắp chết rồi ông ạ.
- Thì cháu cứ đem vào cho em nó ăn với, kẻo tội.
- Ứ…
Thành đứng tần ngần. Từ bé anh ấy vốn đã có tính ăn tham.
Mẹ tôi vẫn thường nhắc lại chuyện hồi anh Thành mới lên bốn.
Một hôm ăn cơm, mâm cơm chỉ có một đĩa con thịt rang. Bố tôi thò đũa gắp một miếng.
Thành nhìn thấy òa lên khóc liền, miệng gào thét lên:
- “Giả thịt con đây, giả thịt con đây!…”
- Mang vào cho em ăn đi chứ! - Ông ngoại lại giục.
Anh Thành vẫn cứ đứng tần ngần. Thằng Bền thấy thế liền chạy vào giơ nắm xôi trước mặt:
- Ông ơi! Cháu cho anh Vững nắm xôi của cháu nhé.
Vậy là anh Thành được gỡ bí, nhảy tót ra ngoài hiên. Nói rồi thằng Bền chạy lon ton tới bên
giường tôi. Nó mới hơn năm tuổi nên chưa thể biết chuyện tôi đang chết dần từ chân lên sẽ ra
làm sao. Bởi thế nó đâu có sợ. Nó lay người tôi, miệng reo to:
- Anh Vững ơi, dậy ăn xôi này…
Thằng Bền dúi vào tay tôi nắm xôi. Tôi không thể nào cựa quậy để nhấc mình ngồi lên được.
Hai chân tôi lúc này như đôi ống giang, cứng đờ, nặng trịch, không chút cảm giác. Tôi nằm
ngửa và nhét từng dúm xôi vào miệng, nhai ngấu nghiến đến ngon lành.
Thằng Bền ngó gần sát xem tôi ăn xôi một lúc rồi chạy ra ngoài hiên khoe:
- Mẹ ơi!… Anh Vững ăn xôi ngon lắm!
Mẹ tôi đang mải giần gạo, không rõ nói với nó hay nói với ai:
- Chắc ăn giả bữa rồi chết thôi.
Tôi mải ăn nên không bận lòng đến những lời nói đó. Xôi ngon thật. Tôi chưa bao giờ thấy
thòm thèm như lúc này.
Ông ngoại vẫn ngồi xếp bằng tròn thu lu trên phản. Ánh đèn dầu lù mù nên nhìn ông như
một cái bóng đen sẫm, lù lù.
No bụng, trong người tôi cảm thấy dễ chịu lạ thường. Thằng Bền lại vào leo lên giường, ngồi
với tôi. Đến khi mẹ tôi trông thấy, bà quát luôn:
- Bền! Có ra ngoài đi không? Mày muốn lây bệnh chết theo nó à?
Giật mình, thằng Bền ngó lại vào mặt tôi, tò mò, khó hiểu. Tôi vẫn nằm im trước mặt nó đây.
Tôi là anh nó, vẫn thường cõng nó đi chơi dạo nào. Vậy mà ngồi với tôi sẽ lây bệnh chết theo.
Người ta sẽ mang ra chôn ở ngoài bãi tha ma. Ma là gì nhỉ? Thằng Bền nào có biết. Nhưng mỗi
khi người ta dứ ma là nó sợ. Nó hình dung ma là con vật quái dị và độc ác lắm. Hẳn vì thế mà hễ
trẻ con hờn quấy là các bà mẹ, bà chị ẵm trẻ con đều lấy ma ra để dọa.
Như vậy thì anh Vững của nó sẽ thành ma. Ai chết mà chả hóa ra ma. Thế thì khiếp quá!
Nghĩ sao đó bỗng nó nhìn tôi chằm chằm, lùi đít ra mép giường, tụt xuống. Vẫn không rời mắt
nhìn tôi, đi giật lùi. Như gặp quái vật, đứa trẻ vừa nhìn thẳng sợ hãi đón chờ tai họa, vừa lùi
bước tìm đường thoát thân. Gần đến cửa, nó ù té quay ra ôm chầm lấy mẹ tôi, hoảng hốt và
kinh hãi.
Tôi vẫn cứ nằm ngửa, duỗi thẳng hai chân cứng nhắc, giá lạnh không còn thấy cảm giác gì
nữa, nhìn lên mái nhà tối om.
Không rõ giấc ngủ kéo đến hay là tôi lại thiếp lịm đi, hay là đích thị Tử Thần đã hiện ra lấn
dần từng bước. Khi đã cướp xong đôi chân, liền bắt đầu nuốt tới phần thân xác tôi vào miệng
Cái Chết.
Toàn thân tôi chợt nhẹ bẫng. Tôi có cảm giác như mình đang bồng bềnh trôi nổi chơi vơi
giữa khoảng không. Tôi chết thật đến nơi rồi.
Tiếng búa đóng đanh ghép quan tài cành cạch ở ngoài sân vọng vào như tiếng mõ ngoài
chùa, mờ tỏ, huyền hoặc, xa xôi, hư ảo. Tôi nào có hay biết gì đâu. Thân xác hay linh hồn tôi
bay bổng, lượn lờ. Ngọn đèn dầu để giữa phản nơi ông ngoại đang ngồi, ai đó hay chính ông
ngoại đã vặn nhỏ lại, đốm lửa bé bằng hạt đỗ xanh tỏa thứ ánh sáng lờ mờ nhợt nhạt, khiến cho
không gian trong nhà nhập nhoạng, tối tăm.
Ngoài trời, gió ào ào về từng đợt từng đợt, đập vào vách núi Ngang, lật những tấm gianh lợp
trên mái nhà chốc chốc lại loạt xoạt.
Đêm.
Cả vùng núi đá vôi chìm vào đêm tối, tĩnh mịch, thẳm sâu, hoang dã, chứa chất bao điều bí
ẩn. Đúng như trong các truyện cổ tích mà lũ trẻ con chúng tôi vẫn thường nghe ông ngoại kể
vào những buổi tối có trăng trong những dịp hè về thăm quê hàng năm.
Tôi đang trong giây phút “ra đi” về nơi thiên cổ nên không thấy có một ai vào với tôi nữa.
Mọi người đều đã lên giường đi ngủ cả rồi. Chỉ có mình ông ngoại là vẫn còn thức, cứ ngồi thu
lu trên phản như cái cây già cỗi ủ rũ chờ ngày tàn lụi hẳn. Ông ngoại đã ngoài sáu mươi tuổi
rồi. Vóc người vốn nhỏ nhắn, về già càng tọp đi, gân guốc và khắc khổ. Vốn là một nhà nho hay
chữ trong làng nên có đọc một số sách thuốc. Ông không làm thầy lang kiếm tiền, nhưng bà con
họ hàng hay láng giềng có người nào đau ốm đến nhờ cậy, ông sẵn lòng đến thăm con bệnh, bắt
mạch kê đơn cho họ đi cắt thuốc. Hẳn lúc này, trước tính mạng đứa cháu ngoại mà phải chịu bó
tay buông cho Tử Thần cướp nó đi thì lòng ông đau đớn lắm.
Ông ngoại vẫn cứ ngồi lặng thầm suy tư trong bóng tối. Là người có đông con, lắm cháu.
Nhưng trong thâm tâm, ông ngoại dành tình yêu thương cho người con gái thứ năm này. Bởi
trong số những đứa con kể từ các con vợ cả đến các con vợ ba, nó là người chất phác thật thà.
Năm nó mười tám tuổi, ông cho con gái đi lấy chồng. Chàng rể quê ở mãi ngoài tỉnh Hà Đông.
Nhà nghèo phải đi kiếm sống từ thuở mười lăm, mười sáu. Ông thuận ưng, thậm chí còn giấu
vợ cùng các con mình, giúi tiền cho chàng rể tương lai lo đồ sính lễ. Ơn trời nó là một trong
những chàng rể tốt nhất trong số các con rể của ông, lại là người lanh lợi, có chí tiến thủ nên ăn
ở trong họ ngoài làng ai ai cũng yêu thương quý mến.
Ông những mừng. Tuy nhiên cũng phải nói thật, hồi vợ ông còn sống, bà ấy thương con gái
theo cái kiểu đàn bà nhà quê, mắt chưa bao giờ nhìn vượt khỏi cái bờ dậu cúc tần nhà mình.
Thấy cây mà chẳng thấy rừng. Chỉ ham cho con vào những nhà có của. Nên bà ấy chê thằng
chồng nó nghèo, đối xử có phần tệ bạc với con. Giờ con rể ông theo cách mạng, làm cán bộ
thoát ly hoạt động cho kháng chiến. Con gái ông ở nhà một nách ba đứa con mọn. Ông không
lưu tâm chăm nom con cháu sao được. Hơn nữa, ba đứa cháu ngoại này đều được sinh ra và
lớn lên trên quê mẹ nó nên ông biết rõ từng đứa. Bởi vậy, khi nghe tin thằng Vững ốm, tuy
người đang mệt, ông vẫn bắt thằng Tùng với con Thảo (là những người con còn đang sống với
ông) võng vào thăm bệnh cho cháu.
Nó là đứa khôi ngô linh lợi nhất trong ba thằng cháu ngoại này.
Giờ ông đành chịu bó tay… Như thế có nghĩa là bất lực đứng nhìn thằng cháu chết. Nó mà
chết thật thì chắc chắn, ông sẽ buồn lòng rồi không khéo chết theo cháu cũng nên. Ông ngoại
vẫn còn ngồi lặng người như chìm vào bóng tối, suy ngẫm một mình. Ông những giận con gái.
Ừ thì cái chuyện con cái nó ốm đau ròng rã một năm trời, chạy chữa thuốc men mất đứt đi mấy
lứa lợn thật. Thời buổi chiến tranh loạn lạc làm ăn kiếm ra đồng bạc nào có dễ, lại còn phải
chăm sóc đứa trẻ đau ốm, hờn quấy cũng vất vả mà vẫn không cứu chữa nổi, ai chả xót thương.
Nhiều khi cáu bẳn. Chẳng những thế, nó lại là đứa con nuôi. Con nuôi nhưng lại còn hơn con
đẻ. Bởi bố mẹ nó đều đi làm cách mạng, sinh con trong nhà tù. Ngày Việt Minh cướp chính
quyền đã kịp thời chiếm ngay nhà giam, giải thoát được hai mẹ con. Nhưng chẳng bao lâu thì
người mẹ qua đời bởi kiệt sức. Bố thằng bé thì bị giặc đầy đi Côn Đảo không biết sống chết ra
sao. Là bạn cùng hoạt động, con rể ông đã nhận đứa bé về, thuyết phục vợ nuôi. Âu cũng là cái
số kiếp nó vào nhờ cậy cửa nhà mình. Chẳng lộc của thì cũng lộc con trời cho. Quả nhiên con
gái ông đẻ sòn sòn, toàn con trai cả.
Thằng Vững lớn lên sống hòa mình với lũ cháu ông, không một ai trong nhà được phép cho
nó biết sự thật. Và rồi “bố mẹ” cũng như chú bác, cậu dì không hề bận tâm tới tông tích nó nữa,
coi nó đích thị là con đẻ, cháu ruột của mình. Vậy đã thương thì thương cho trót. Đằng này…
Giờ nó sắp chết rồi. Đạo lý của người làm cha làm mẹ sống ở đời sao lại nỡ nói năng cay nghiệt
với con cái thế? Mà nào nó có làm nên tội tình gì. Nay ông trời bắt nó “đi” về với bố mẹ nó nơi
“chín suối”, đành phải cắn răng chịu đựng chứ biết làm sao.
Ngẫm ngợi gì đấy, chợt ông lắc đầu lẩm bẩm một mình: “Nó cạn nghĩ như mẹ nó ngày xưa
vậy. Thương chồng thương con nhưng thiển cận và xốc nổi quá!”
Đêm chuyển dần về sáng. ở vùng núi, mùa hè cũng vậy, đêm bao giờ cũng lành lạnh. Thức
mãi chắc là mệt mỏi lắm rồi. Ông ngoại vặn ngọn đèn dầu cho đốm lửa đều bấc to lên, ánh sáng
bừng thêm một chút. Ông khẽ lần bước đến giường tôi nằm, đưa tay lên sờ nắn khắp người
thằng cháu bé bỏng đã bén sâu vào lòng yêu thương của ông. “Không lẽ nó lại chết ư?” Thoáng
trong đầu ông câu hỏi. Ông đứng lặng yên nhìn tôi hồi lâu. Không nói gì. Rồi ông lặng lẽ quay ra,
thu dọn điếu bát, ấm tích và đĩa chén, lấy cái gối mây đặt xuống phản ngả lưng nằm.
Ngọn đèn dầu lẫn vào bóng đêm bởi đốm lửa ở đầu bấc chỉ còn bé tí nhờ nhờ xanh xanh như
ánh lân tinh ngoài bãi tha ma.
Chỉ có gió là không ngủ, vẫn thức đập vào chái hồi, đập vào vách núi hun hút, loạt xoạt.
Rõ ràng là tôi không chết nên mọi sự việc đều được lưu giữ trong trí nhớ. Sự sống trong con
người tôi chỉ còn thoi thóp ở trái tim bé nhỏ, yếu đuối. Thỉnh thoảng nó mới gắng gõ một nhịp
đến là khó khăn, cố sức đẩy chút máu có trong cơ thể lên nuôi bộ óc. Để tôi có thể sống trong
một giấc mơ kỳ lạ và khó hiểu. Cho đến bây giờ tôi vẫn không hay biết một tí gì về sự thật con
người tôi. Mới tám chín tuổi đầu, tâm hồn còn thơ trẻ nên tôi không hề bận tâm về bất cứ một
sự bí ẩn nào. Tôi đinh ninh mình được sống trong gia đình với bố mẹ và anh em ấm êm, hòa
thuận như bất kỳ một đứa trẻ nào. Đến tuổi học hành được cắp sách đến trường.
Gia đình tôi vốn làm ăn sinh sống ở thị xã Ninh Bình. Sau mấy lần chạy tản cư loanh quanh,
luẩn quẩn. Gồng gánh chạy ra vùng Thượng Đồng, rồi lại bồng bế nhau đi vào thị trấn Cầu Cừ
tỉnh Thanh Hóa. Ở đó không được bao lâu lại trở ra làng Bộ Đầu giáp cầu Yên là quê mẹ tôi. Mẹ
tôi thôi không bán thuốc lào mà chuyển sang mở hàng xén bán ở phố ga Cầu Yên. Phố ga khá
đông vui, chạy từ mố cầu phía nam vào tới khu nhà ga hỏa xa, phải tới hơn cây số. Bên kia
đường sắt là cánh đồng chiêm bao bọc lấy làng Đông Trang. Bên này đường nhựa là nhà cửa,
phố xá với đủ các hàng quán, cửa hiệu, đằng sau liền với làng Bộ Đầu. Ông ngoại tôi cũng có
một ngôi nhà ngói hai gian ở mặt phố.
Giặc Pháp chiếm đóng dưới Phát Diệm, xây bốt ở núi Sậu, thỉnh thoảng lại đi càn quét quanh
vùng, cướp bóc của cải, gạo thóc, trâu bò gà lợn và phá phong trào du kích, hoặc câu đại bác lên
vùng ven thị xã Ninh Bình. Mà quê ngoại tôi cách thị xã có năm sáu cây số là cùng. Nếu tính
theo đường chim bay thì còn ngắn hơn nhiều. Thành thử lắm khi đạn lạc xuống. Đã có mấy nhà
ở dãy phố Cầu Yên trúng đạn rồi. Mẹ tôi mới đành đưa gia đình vào ở núi Ngang thuộc xứ đạo
Hệ Dưỡng để tránh bom đạn. Cũng có nhiều gia đình ở phố Cầu Yên chạy vào. Đông vui và
thành xóm Núi Ngang. Xóm Núi Ngang nhà nào cũng dựng một đầu hồi nhà áp sát vách núi để
tiện khi tàu bay Pháp có đến oanh tạc thì chạy vào hang ẩn nấp cho nhanh. Đầu hồi kia chĩa ra
phía cánh đồng chiêm trũng.
Những đứa trẻ lớn bằng tôi trở lên đều đi học. Vào học tận trong làng Hệ Dưỡng ấy. Lớp học
mở ở chùa của dân bên “đời” dựng dưới chân núi giáp làng. Từ ngôi chùa đến nhà thờ xứ đạo
cũng rất gần.
Thầy giáo dạy tôi là một ông y tá đã ngoài bốn mươi tuổi, tên là Kỳ. Không rõ vì lý do gì mà
ông bỏ nhà thương trên thị xã Ninh Bình về làng sống với vợ con. Đoàn thể mời ông ra dạy
đám trẻ con học chữ.
Tôi là đứa học trò chăm chỉ và cũng sáng dạ nên được thầy giáo yêu mến.
 





