GTS THÁNG 10 - HÃY BIẾT YÊU THƯƠNG MẸ
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
_oss-va-ho-chi-minh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thu Trang
Ngày gửi: 20h:31' 16-10-2025
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thu Trang
Ngày gửi: 20h:31' 16-10-2025
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
OSS VÀ HỒ CHÍ MINH
DIXEE R. BARTHOLOMEW-FEIS
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Lời nói đầu
Lời giới thiệu
Chương 1
Chương 2
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 7 (b)
Chương 7 (c)
Chương 8
https://thuviensach.vn
Chương 8 (b)
Chương 8 (c)
Chương 9
Chương 10
Chương 10 (tt)
DIXEE R. BARTHOLOMEW-FEIS
OSS VÀ HỒ CHÍ MINH
Dịch giả: Lê Lương Giang
Lời nói đầu
OSS VÀ HỒ CHÍ MINH - ĐỒNG MINH BẤT NGỜ TRONG CUỘC
CHIẾN CHỐNG PHÁT XÍT NHẬT
Năm 1995, là năm Mỹ bình thường hoá quan hệ với Việt Nam. Cùng năm
đó, tôi viết lời giới thiệu và đứng tên để xuất bản cuốn "Tại sao Việt Nam"
(Why Vietnam?) của A. Patti.
Cuốn sách được xuất bản tại Mỹ 10 năm trước đó (1985). Tác giả của cuốn
sách là người chỉ huy cao nhất của tổ chức tình báo chiến lược OSS (tiền
thân của CIA) đã có mặt ở Việt Nam khi Cách mạng tháng Tám 1945 vừa
thành công.
Nội dung cuốn sách là câu trả lời lấy từ tứ thơ của một bài ca cổ Ái Nhĩ
Lan về câu chuyện gã thuỷ thủ già nỡ bắn chết con chim báo bão. Con chim
báo bão chính là những ký ức lịch sử về một thời kỳ Mỹ và Hồ Chí Minh
https://thuviensach.vn
từng là đồng minh chống phát xít. Chim báo bão chết, tất nhiên con tàu của
gã thuỷ thủ già bị lạc vào giông bão.
Cũng năm ấy, đoàn các cựu chiến binh của nhóm OSS cộng tác với Hồ
Chí Minh đến thăm Hà Nội và gặp lại những người đồng minh từ nửa thế
kỷ trước. Tôi may mắn được tham dự và chứng kiến và chợt nhận ra rằng
trong lịch sử cuộc Cách mạng tháng Tám 1945, lực lượng nước ngoài duy
nhất đứng bên cạnh Hồ Chí Minh chỉ có… Hoa Kỳ! Năm 1997, tôi lại may
mắn được tháp tùng các cụ Việt Minh sang tận New York để gặp các cụ
OSS hàn huyên cho giới sử học nhiều nước cùng nghe để làm sâu sắc hơn
cái ký ức đã có thời bị quên lãng ấy. Nhiều nội dung các câu chuyện kể
được phản ánh trong cuốn sách này.
Có hẳn một đêm "trình diễn" tại Nhà châu Á" ở New York. Hai nhóm các
cụ OSS và Việt Minh gặp nhau cùng kể lại chuyện cũ cho một cử toạ, ngoài
quan khách của hai bên, số đông là những nhân viên CIA đến dự có phần vì
tò mò trước câu chuyện hợp tác giữa hai bên mà trong ký ức thế hệ của họ
chỉ thấy sự thù dịch trong một cuộc chiến vô cùng khốc liệt.
Cụ Charles Fenn là người cao tuổi nhất trong nhóm OSS, năm đó đã xấp
xỉ 90 đi cùng một cô bạn gái rất trẻ. Cụ ít nói, chỉ quan sát. Cụ là người đầu
tiên trong đơn vị gặp Hồ Chí Minh ; sau này cũng lại là người đầu tiên từ
nước Mỹ viết cuốn tiểu sử đầu tiên bằng Anh ngữ và bị trục xuất vì việc
làm ấy…
https://thuviensach.vn
Trước khi chia tay, Cụ gọi tôi và một anh bạn cùng đoàn chỉ để nói một
điều tâm đắc nhất: "Mỹ không có bạn, Mỹ chỉ có đồng minh. Cụ Hồ của
các bạn biết Mỹ nên hợp tác được với Mỹ". Tôi hỏi: Vậy thì Đồng minh là
thế nào? Cụ trả lời: Cùng có lợi!
Cũng trong hai năm 1995 và 1997 tôi lại may mắn có mặt trong cả hai
cuộc gặp giữa Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc Namarra và Đại tướng
Võ Nguyên Giáp đều diễn ra ở Hà Nội.
Cả hai lần ông khách Mỹ chỉ chốt vào một câu hỏi: "Liệu có cơ hội nào bị
bỏ lỡ hay không khiến hai quốc gia không thiết lập được sự hợp tác mà
quay sang đánh nhau?". Thì cũng cả hai lần vị lão tướng của chúng ta đưa
về một nguyên lý: "Việt Nam là nước nhỏ, chỉ mong hoà bình hợp tác với
thiên hạ. Chúng ta đã từng hợp tác cho đến khi chính lợi ích của nước lớn
đã khiến Mỹ chọn con đường khác".
Năm 1998. Tôi lại may mắn có mặt tại nhà riêng của Đại tướng Võ
Nguyên Giáp trong cuộc gặp con trai của cố Tổng thống Mỹ J.F. Kennedy.
Năm ấy, giữa hai người tuổi cách nhau tròn nửa thế kỷ, vị Đại tướng 88
tuổi nói với vị khách Mỹ 38 tuổi rằng: thế hệ các bạn chỉ biết lịch sử mối
quan hệ Việt-Mỹ là một cuộc chiến tranh tàn khốc và đầy thù hận kéo dài
30 năm, nhưng nên nhớ rằng trước đó đã có những trang sử của quan hệ tốt
đẹp và của tinh thần hợp tác. Tương lai các bạn trẻ cả hai nước phải viết
tiếp những trang sử tốt đẹp ấy.
https://thuviensach.vn
Đại tướng chỉ vào những tấm ảnh chụp cùng Bác Hồ tiếp các bạn Mỹ
trong những ngày Đất nước độc lập đầu tiên làm bằng chứng. Năm 2005.
Tôi lại may mắn được tháp tùng vị Thủ tướng Việt Nam đầu tiên đi thăm
nước Mỹ. Ở chặng đầu tiên, thành phố Seattle, có một người ra đón và tiếp
kiến đầu tiên Thủ tướng của chúng ta lại chính là một cựu chiến binh OSS
đã từng rất gần gũi với Bác Hồ. Đó là cụ Mac Shin người báo vụ viên được
OSS cử đi theo nhà lãnh đạo Việt Minh về chiến khu Việt Bắc sớm nhất.
Rồi ở chặng cuối, thành phố Boston, ông chủ tập đoàn LDG chủ trì cuộc
đón tiếp đã giương cao tấm bích chương vẽ cách cứu phi công Mỹ có in lá
cờ hoa và cờ đỏ sao vàng và nói lớn với cử toạ rằng: cách đây 60 năm
chúng ta đã từng hợp tác chống phát xít thì giờ đây tại sao chúng ta không
hợp tác để làm giàu cho hai quốc gia? Còn ông cựu thượng nghị sĩ
MacGovern nổi tiếng đại điện cử tri bang Massachusetts, đã từng ra tranh
cử tổng thống với R. Nixon thì phát biểu rằng sở đĩ cương lĩnh tranh cử của
ông là chống cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam bởi lẽ trong Đại chiến
thế giới lần thứ Hai ông là một phi công ném bom ở vùng Đông Nam Á.
Do vậy ông biết Hồ Chí Minh từng tổ chức cứu phi công Mỹ bị Nhật bắn
rơi, do vậy không thể làm một cuộc chiến tranh với những người như Hồ
Chí Minh. Ông nói thêm rằng, cuộc tranh cử ấy ông đã thất bại, nhưng giờ
đây lịch sử chứng minh rằng những cử tri của thành phố Boston và của
bang Massachusetts là những cử tri ưu tú nhất vì lịch sử chứng minh rằng
rốt cuộc hai dân tộc chúng ta đã hoà bình hợp tác với nhau.
Năm 2006. Tôi lại có may mắn tham gia vào thành phần Việt Nam trong
cuộc tiếp xúc giữa Quốc hội hai nước, nhân phái đoàn do Chủ tịch Hạ viện
https://thuviensach.vn
Mỹ sang thăm Hà Nội. Trong phát biểu chào mừng buổi sáng cũng như mở
đầu tiệc chiêu đãi buổi tối, ông Chủ tịch Quốc hội Việt giam nhắc lại một
lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1946 rằng: "Việt Nam chủ
trương hoàn toàn độc lập và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ", và khẳng định
rằng đó cũng là thông điệp của Việt Nam "ngày hôm nay". Và bữa tiệc
chiêu dãi này hiểu theo nghĩa nào đó đã được dọn sẵn từ 60 năm trước!…
Tất cả những gì chứa đựng trong những sự kiện trên có thể tìm thấy trong
cuốn sách đang có trên tay của các bạn - bản dịch "OSS và Hồ Chí Minh đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến chống phát xít Nhật". Đây là một công
trình nghiên cứu được coi là hoàn chỉnh nhất về lịch sử quan hệ Việt-Mỹ
trong thời kỳ đại chiến Thế giới lần thứ Hai, cũng là một thời đoạn quan
trọng trong tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lịch sử cuộc Cách mạng
tháng Tám 1945. lỉó sẽ rất bổ ích cho những ai.dang chứng kiến những tiến
triến quan trọng trong quan hệ Việt-Mỹ ngày hôm nay gắn liền với tiến
trình hội nhập và không ngừng Đổi mới của dân tộc Việt Nam.
7.2007
Dương Trung Quốc
DIXEE R. BARTHOLOMEW-FEIS
OSS VÀ HỒ CHÍ MINH
Dịch giả: Lê Lương Giang
Lời giới thiệu
https://thuviensach.vn
Những vụ nổ làm rung chuyển Trân Châu Cảng ngày 7 tháng 12 năm 1941
đã dẫn đến những thay đổi to lớn trên toàn thế giới. Cuộc tấn công của Nhật
Bản đã kéo nước Mỹ vào vòng chiến bên cạnh Anh, Liên Xô và Trung
quốc trong nỗ lực đánh bại thế lực quân sự Đức, Italia và Nhật Bản. Khi
chiến tranh lan rộng ra khắp các mặt trận châu Âu và Thái Bình Dương, rất
ít quốc gia tránh được sự tàn phá về kinh tế, quân sự chính trị và xã hội của
thảm hoạ này.
Chiến tranh cũng hoà giải các dân tộc và quốc gia có đường hoàng ít nhiều
đối nghịch nhau trong thời bình. Một mối quan hệ "bất ngờ" như vậy đã
xuất hiện giữa người Mỹ và người Việt Nam (lúc đó được biết đến với cái
tên An Nam hay Đông Dương). Người Việt Nam sống mòn mỏi dưới ách
thống trị thực dân nhiều thập kỷ ở Đông Nam Á như một phần Đông
Dương thuộc Pháp bao gồm Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào và
Campuchia.
Các mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ còn có nhiều thăng trầm, và cuối
cùng đẫn đến một cuộc chiến tranh khác gần 20 năm sau. Nhưng vào năm
1941, không có người Mỹ và người Việt Nam nào dự cảm dược tương lai
này. Trên thực tế, khi người Mỹ còn đang choáng váng vì cuộc tấn công
Trân Châu Cảng và mới chỉ bắt đầu sẵn sàng cho cuộc chiến lâu dài phía
trước, thì một số người Việt Nam đã phân tích việc nước Mỹ tham chiến có
thể có ý nghĩa đối với họ và với cuộc đấu tranh vì tự do, thoát khỏi ách thực
dân của họ: "Chúng ta phải ngăn ngừa ảo tưởng rằng Tưởng Giới Thạch và
quân Anh - Mỹ sẽ mang lại tự do cho chúng ta", Tổng bí thư Đảng cộng
sản Đông Dương Trường Chinh lên tiếng cảnh báo. "Trong cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc của chúng ta", ông nói tiếp, "rõ ràng chúng ta phải tìm
https://thuviensach.vn
kiếm các đồng minh - cho dù họ chỉ là nhất thời, dao động, hay có điều
kiện - nhưng cuộc đấu tranh này phải là thành quả của những nỗ lực của
chính chúng ta". Là một người cộng sản cứng rắn, hẳn ông sẽ hết sức ngạc
nhiên khi biết rằng một trong những nhà tư bản nổi bật nhất ở Mỹ, luật sư
triệu phú William J. Donovan, người sau đó đứng đầu một tổ chức sẽ đóng
vai trò quan trọng trong việc "giới thiệu" hai quốc gia, cũng đồng chia sẻ
triết lý tranh thủ các đồng minh.
Donovan, giám đốc Cơ quan Tình báo Chiến lược (OSS), một cơ quan thời
chiến trong quân đội Mỹ thực thi các chiến dịch tình báo và phản gián, còn
nhận ra sự cần thiết sử dụng đồng minh trên diện rộng - dù là "nhất thời,
dao động, hay có điều kiện". Mặc dù chính ông chống đối chủ nghĩa cộng
sản, nhưng trong suốt cuộc chiến, OSS của Donovan đã sát cánh cùng tổ
chức bí mật của những người cộng sản trên khắp châu Âu. "OSS không
phải là một tổ chức hoạch định chính sách, Donovan nhiều lần nhấn mạnh,
và với nước Nga là một đồng minh cùng tham chiến, nhiệm vụ của ông là
hợp tác trong mục tiêu chung - đánh bại phe Trục trong thời gian ngắn nhất
có thể!". Những suy xét tương tự được các đặc vụ của Donovan tuân thủ
triệt để khi hoạt động vời những người cộng sản ở châu Á, vì đôi khi họ là
những người hiểu rõ nhất tình hình chính trị và quân sự trong khu vực. Nói
một cách đơn giản, sứ mạng của OSS tại châu Á là nhằm đánh bại phát xít
Nhật và chấm dứt sự áp bức tàn bạo của Khối Thịnh vượng chung Đại
Đông Á. Và điều đó có nghĩa là, cần phải có sự hiện diện của tình báo quân
đội Mỹ tại Việt Nam lúc đó đang bị Nhật Bản chiếm đóng, một khu vực
nằm ngoài những quan tâm của Mỹ thời kỳ trước chiến tranh nhưng lại đặc
biệt quan trọng bởi nằm kề cả Trung Quốc và đảo quốc Nhật Bản.
Do đó các nhân viên OSS buộc phải tuyển mộ đặc tình, sau đó là các nhóm
vũ trang quân sự dưới sự bảo trợ của OSS rồi phái họ trở lại khu vực này.
https://thuviensach.vn
Vì vậy dường lối của hai dân tộc gặp nhau trong một thời khắc ngắn ngủi một thời khắc vừa nguy hiểm lại vừa đầy hứa hẹn đối với tương lai của cả
hai nước.
Trong ba năm tồn tại ngắn ngủi của mình, tổ chức OSS đã tham gia nhiều
chiến dịch và hoạt động tình báo bí mật, đã tuyển mộ cả nam lẫn nữ phù
hợp với những nhiệm vụ của nó. Edmond Taylor, một cựu thành viên của
OSS, đã bày tỏ quan điểm của mình về nhân tố căn bản đằng sau tổ chức
này: "Tôi nghĩ Donovan đã hy vọng chứng minh qua OSS rằng, như thường
lệ nguồn dự trữ chưa được khai thác của lòng dũng cảm của con người, tài
nguyên và tính năng động của ý chí cá nhân sẽ tạo thành tiền dề của chiến
thắng. Vì rằng, trong một thế giới ngày càng được cơ giới hoá, nhân cách
vẫn không chỉ là phẩm chất đạo đức mà còn là giá trị chiến lược". Có thể sự
có mặt của chính những con người như thế trên lãnh thổ Việt Nam khiến
cho tình thế mà họ đổi đầu trở nên quá phức tạp và, đôi khi quá nhiễu loạn
đối với họ. Vì những người Mỹ ấy không chỉ chứng kiến sự tàn bạo của
quân Nhật mà còn dối mặt với thực tế ảm đạm của chủ nghĩa thực dân Pháp
từ viễn cảnh Việt Nam.
Có thể thực tế này đã được tổng kết đầy đủ nhất trong một bài ca Việt Nam
nổi tiếng hồi những năm 30: "Đại hoạ thay vì quyền hành bị quân xâm lược
Pháp - những kẻ vốn có dã tâm tàn bạo, cướp đoạt. Vô sỉ thay khi bày mâm
ra người ta chẳng có gì để ăn ngoài rễ cây và lá; khốn khổ thay khi cầm đũa
lên rồi buông tiếng thở dài vì thiếu muối".
Sự mô tả điều kiện thảm khốc và tương lai ảm đạm của hầu hết nông dân ở
nông thôn Việt Nam này rõ ràng tố cáo người Pháp - "những kẻ xâm lược
man rợ". Thật vậy, hầu hết người Việt Nam nhận được quá ít nhưng lại đau
https://thuviensach.vn
khổ quá nhiều dưới ách thống trị thực dân 50 năm tính đến thời điểm đó.
Trong khi người Pháp tâng bốc những thành quả của sứ mạng khai hoá thì
tình cảnh của nông dân càng trở nên tồi tệ hơn.
Tuy nhiên, người Pháp, tầng lớp chóp bu người Việt và người Hoa - những
kẻ hợp tác với Pháp - được hưởng những thành quả lao động của người
nông dân. Những báo cáo của người Việt thời kỳ này như đất đỏ, hồi ký của
Trần Tử Bình có nhan đề Hồi ức của một người Việt Nam về cuộc sống tahi
đồn điền cao su thuộc địa và Trần Văn Mai Ai gây ra tội ác này? đã làm
sáng tỏ điều bài ca khẳng định rằng ách thống trị của Pháp rất hà khắc và
rằng trung nông chịu nhiều đau khổ dưới ách thực dân. Nếu là người Pháp
thì Nam Kỳ nói chung và Sài Gòn nói riêng thoả mãn hình ảnh ám chỉ danh
hiệu "Hòn ngọc Viễn Đông". Nhưng có rất ít người Việt Nam được đắm
mình trong vẻ đẹp lộng lẫy của hòn ngọc thuộc Pháp này.
Từ gốc rễ của nỗi thất vọng như vậy, các nhà lãnh đạo và phong trào đòi
độc lập Việt Nam nổi lên. Có rất nhiều đối thủ với đủ trào lưu tư tưởng
tranh đua lãnh đạo quần chúng bất mãn, kể cả những người theo chủ nghĩa
quân chủ thân thật, Việt Nam Quốc dân Đảng (VNQDĐ), các nhóm Mác
xít cách mạng, nổi bật nhất là Đảng Cộng sản Đông Dương (ICP) - chính
đảng nắm quyền điều khiển Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (còn gọi là
Việt Minh), và những nhóm Trotskit ít tiếng tăm hơn. Tất cả đều cố gắng
củng cố sức mạnh đối với quan điểm chống Pháp đang lan tràn khắp nổi.
Cuối cùng, sau khi loại bỏ Quốc dân Đảng và kết nạp nhiều đối thủ của
mình vào hàng ngũ Việt Minh, những người cộng sản đã chiếm ưu thế. Đến
năm 1945 Việt Minh bắt đầu thu hút được một số lượng thành viên lớn
chưa từng có và rõ ràng đã trở thành lực lượng nổi bật nhất trong các nhóm
người Việt đấu tranh giành chính quyền và độc lập. Lúc đó, Việt Minh chủ
yếu được nhìn nhận như phong trào chống thực dân, ủng hộ độc lập và có
https://thuviensach.vn
lẽ cả dân tộc chủ nghĩa chứ không như tổ chức cộng sản. Thực tế là lúc đó
có rất ít người Việt Nam hiểu chủ nghĩa cộng sản đại diện cho cái gì, nhưng
hầu hết đều đau đớn nhận thức được chủ nghĩa thực dân Pháp là gì trong
cuộc sống của họ.
Đến cuối năm 1945, Việt Minh dường như đã hiểu rõ hơn bất kỳ chính
đảng nào khác cách sử dụng khát vọng mãnh liệt của hầu hết người Việt
vào mục đích lật đổ ách thực dân của mình. Nhà sử học Huỳnh Kim Khánh
biện luận rằng bí quyết để Việt Minh đứng lên nắm quyền là "kỹ năng phân
tích tình thế cách mạng, tổ chức, tuyên truyền, và khả năng lãnh đạo không
nghi ngờ gì nữa, cực giỏi đối với tất cả, không có ngoại trừ các đảng phái
chính trị Việt Nam". Tuy nhiên, ông Khánh cũng chỉ ra rằng, "những kỹ
năng này đã không đem lại kết quả nếu không có thời cơ cách mạng thuận
lợi". Một trong số những người đầu tiên hiểu được "thời cơ cách mạng
thuận lợi" đến cuối chiến tranh sẽ nổi lên thành nhà lãnh đạo Việt Minh và
rồi cuối cùng trở thành người Việt Nam được đánh giá cao nhất trên thế
giới.
Sinh năm 1890 tại Nghệ An, một tỉnh có truyền thống cách mạng, phần lớn
thời trai trẻ Hồ Chí Minh bôn ba năm châu bốn biển, phải làm đủ nghề lặt
vặt và thử nghiệm một loạt triết lý chính trị. Ngay sau khi Chiến tranh thế
giới 1 kết thúc, ông, lúc đó có tên Nguyễn Ái Quốc, đi đến kết luận rằng
chủ nghĩa cộng sản đã đưa ra những luận cứ rõ ràng nhất chống lại chế độ
thuộc địa và một viễn cảnh sáng sủa nhất cho công cuộc thống nhất và điều
hành một nước Việt Nam độc lập. Là một nhà văn có bút lực đầy thuyết
phục và là một nhà ái quốc mạnh mẽ, ông đã sống phần lớn những năm đầu
của cuộc đời hoạt động ở nước ngoài và đã trở về việt Nam thời kỳ đầu
Chiến tranh thế giới 2 - thời điểm thích hợp nhất trong lịch sử Việt Nam.
https://thuviensach.vn
Chiến tranh thế giới 2 đã gắn kết nhiều tầng lớp xã hội, tạo ra thời cơ vàng
cho Hồ Chí Minh và Việt Minh. Năm năm chiếm đóng Hòn ngọc Viễn
Đông thuộc Pháp của Nhật Bản đã làm cho cảnh bần cùng của đại bộ phận
người dân Việt Nam trở nên tồi tệ hơn, và cơ bản làm suy yếu vị thế của
Pháp trong mắt của cả những kẻ thực dân bị quản chế và Đồng Minh.
Ngoài khả năng bảo vệ lập trường chống thực dân, Việt Minh còn có thể
yêu cầu hợp tác với Đồng Minh trong cuộc chiến chống Nhật Bản. Mặc dù
các hoạt động chống Nhật của Việt Minh chỉ nhỉnh hơn hoạt động quấy rối
đối với quân đội Thiên Hoàng, nhưng lại có tác dụng tuyên truyền tuyệt vời
đối với phong trào. Hơn nữa, Việt Minh đã hưởng nhiều thuận lợi từ cuộc
đảo chính của quân Nhật diễn ra vào tháng 3 năm 1945, cuộc đảo chính đã
chấm dứt một cách hiệu quả ách thực dân Pháp trong một thời gian ngắn,
sau đó là thất bại của Nhật, tạo ra một khoảng trống quyền lực mà Hồ Chí
Minh và Việt Minh tiến vào.
Các binh sĩ Mỹ thuộc lực lượng OSS cũng gặp phải, (đôi khi theo đúng
nghĩa đen), tình huống chiến tranh này. Như một phần sứ mạng của họ,
những người được chọn vào OSS thường hoạt động bí mật với nhiều nhóm
kháng chiến ở châu Âu và Thái Bình Dương. Trong Chiến tranh thế giới 2,
quyết định hoạt động với nhiều nhóm như vậy đã bị nghi ngờ. Đặc biệt là
sự cộng tác ngắn ngủi giữa OSS và Việt Minh đã trở thành chủ đề tranh
luận lớn, nhất là sau sự dính líu không thích hợp của Mỹ vào Việt Nam từ
năm 1965 đến 1975. Những bất đồng về việc liệu Hồ Chí Minh có trở thành
một "Tito châu Á" hay đứng về phe Liên Xô hay không đã thu hút sự chú ý
của nhiều học giả. Những ý kiến tranh luận này thậm chí đã xuất hiện trong
các thành viên OSS, những người biết Hồ Chí Minh từ những năm 1940.
Một cựu đặc vụ của OSS cho rằng Hồ Chí Minh "hoàn toàn cứng rắn". Ông
https://thuviensach.vn
ta bổ sung thêm, "Tôi không tin rằng có cách thức nào đó để bàn bạc với
ông ấy". Một người khác lại mô tả tình hình có phần hơi khác:
"Bạn phải xét đoán ai đó trên cơ sở những gì người đó muốn. Hồ Chí Minh
không thể là người Pháp, và ông biết ông có thể chống Pháp trong những
giới hạn của mình. Ông e ngại Trung Hoa và ông không thể bàn bạc với họ
bởi họ sẽ đòi cho đủ mới thôi. Quá xa xôi, Moskva thích hợp cho việc phá
cầu nhưng lại không thật thích hợp để xây chúng lại. Nếu không có chiên
tranh, tất nhiên Hồ Chí Miịnh không thể có cơ hội chống lại thực dân
Pháp. Nhưng lúc này ông đã lên yên cho dù không rõ con ngựa ông đang
cưỡi là gì. Lúc đó chắc chắn ông đang giúp chúng ta. Chùng ta và người
Pháp có thể giúp ông trong tương lai. Tôi nghĩ ông đã sẵn sàng giữ thái độ
thân thương Tây".
Tuy nhiên nếu quả thực trong những năm cuối chiến tranh các thành viên
OSS ở Việt Nam hiểu hết vấn đề thì họ đã thấy những ý kiến như vậy hầu
hết đều không ăn nhập. Giống như các cơ quan thời chiến, OSS quan tâm
đến việc giành thắng lợi và tìm kiếm đồng minh trợ giúp cho sứ mạng đó bao gồm những người cộng sản và các nhóm dân tộc chủ nghĩa bản xứ đủ
loại thành phần còn ít được biết đến. Và cho dù giám đốc OSS và nhà lãnh
đạo Việt Minh không thể gặp nhau thì một số điểm tương đồng giữa hai
người và những triết lý của họ đã khai sáng mối quan hệ giữa các thuộc cấp
của William Donovan và Hồ Chí Minh.
Giống như Donovan, Hồ Chí Minh tin giá trị nội tại của "những nguồn dự
trữ lòng can đảm của con người cùng tài nguyên chưa được khai thác", và
tầm quan trọng của phẩm giá con người là yếu tố chiến lược giành thắng
lời. Cả hai ông đã nhận ra tài năng, trí tuệ và phẩm chất khó diễn tả nhưng
https://thuviensach.vn
cần thiết mà nhà sử học Robin Winks gọi là "phẩm chất tiên quyết, ở những
người khác. Hai ông cũng hiểu cần phải uỷ quyền cho những người có
"phẩm chất tiên quyết" để thúc đẩy trao đổi, cho dù là để mở rộng sự tham
gia vào Việt Minh và giải phóng Việt Nam khỏi ách cai trị của Pháp hay,
trong trường hợp của Mỹ, để thu thập trên diện rộng tin tức tình báo cho
việc đánh bại Nhật Bản và giải phóng các dân tộc dang sống dưới ách
chiếm đóng tàn bạo của chúng.
Thoạt tiên, cả Hồ Chí Minh và Donovan tuyển mộ một số lượng lớn các
học giả vào tổ chức của mình, đặc biệt là Hồ Chí Minh trong việc thành lập
Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội giữa những năm 1920 và Donovan
trong Ban nghiên cứu và phân tích quan trọng bậc nhất của OSS. Theo
dòng thời gian, tổ chức của cả hai ông đều mở rộng, thu hút một lượng lớn
thành viên thuộc mọi tầng lớp xã hội.
Bất chấp những thành tựu giáo dục nhân viên đặc vụ, cả Hồ Chí Minh và
Donovan đều tin tưởng cao độ vào cộng sự cũng như vào chính bản thân
mình, bởi tin rằng những người chiến đấu sát cánh bên họ phải "can đảm,
dũng cảm và kiên trì", và phải đặt nhu cầu của họ phụ thuộc vào đòi hỏi của
đại nghĩa. Đối mặt với những tiêu chuẩn cao như vậy, hên cho cả Việt Minh
và OSS là thủ lĩnh của họ may mắn có những phẩm chất thu hút quần
chúng - cái làm cho họ trở nên nổi tiếng. Cả hai được xem là những người
lịch thiệp và khó bị chọc giận, có sức thuyết phục và có đầu óc cởi mở, và
trên hết không thể phủ nhận họ có tinh thần ái quốc cùng quyết tâm sắt đá
phụng sừ những nhu cầu cơ bản của dết nước mình. Và không nghi ngờ gì
nữa, Hồ Chí Minh hẳn đã đồng ý với tuyên bố của Donovan vào năm 1941
rằng "Có một sức mạnh tinh thần trong chiến tranh, rằng về lâu về dài nó sẽ
mạnh hơn bất kỳ cỗ máy nào". Hồ Chí Minh mong đợi chiến thắng cuối
cùng - giành độc lập từ tay Pháp - trong khi Donovan quan tâm đến mục
https://thuviensach.vn
tiêu nhanh chóng đánh bại phe Trục hơn. Nhưng cả hai ông đều tin rằng họ
tiến hành một cuộc chiến hợp đạo lý và chính nghĩa và rằng cuối cùng họ
sẽ chiến thắng.
Tất nhiên, người của Donovan tin họ đang tham gia vào một cuộc chiến
chính nghĩa để giải phóng thế giới khỏi móng vuốt của phát xít Đức và
quân phiệt Nhật. Nhưng chiến tranh kết thúc phần lớn họ thường muốn về
nhà. Tuy nhiên, với các đặc tình của OSS ở Đông Dương thuộc Pháp,
nhiệm vụ của họ vẫn chưa kết thúc ngay cả sau khi Nhật thất trận: họ còn
phải chuẩn bị cho sự đầu hàng chính thức và hồi hương của quân Nhật và
truy lùng những tội phạm chiến tranh. Để thực hiện những mục tiêu của
mình, quân Mỹ trên bộ cần phải hợp tác với người Việt Nam, người Pháp,
Anh và Trung Quốc; và họ thấy sứ mạng của mình bị cản trở nghiêm trọng
bởi những mục đích và lý tường thường trái ngược của các phe nhóm.
Hơn nữa, có lẽ nghĩ rằng mình không thiên vị, nhiều người Mỹ trẻ tuổi đã
dốc lòng cho chủ nghĩa lý tưởng dẫn họ đến kết luận, đặc biệt là sau khi đã
chứng kiến điều kiện sống ở Việt Nam, rằng chủ nghĩa thực dân Pháp cũng
nên bị cáo chung cùng cuộc chiến. Nhiều thành viên OSS tin họ đang hành
động theo ước nguyện của Tổng thống Franklin Roosevelt
OSS VÀ HỒ CHÍ MINH
DIXEE R. BARTHOLOMEW-FEIS
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
Lời nói đầu
Lời giới thiệu
Chương 1
Chương 2
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 7 (b)
Chương 7 (c)
Chương 8
https://thuviensach.vn
Chương 8 (b)
Chương 8 (c)
Chương 9
Chương 10
Chương 10 (tt)
DIXEE R. BARTHOLOMEW-FEIS
OSS VÀ HỒ CHÍ MINH
Dịch giả: Lê Lương Giang
Lời nói đầu
OSS VÀ HỒ CHÍ MINH - ĐỒNG MINH BẤT NGỜ TRONG CUỘC
CHIẾN CHỐNG PHÁT XÍT NHẬT
Năm 1995, là năm Mỹ bình thường hoá quan hệ với Việt Nam. Cùng năm
đó, tôi viết lời giới thiệu và đứng tên để xuất bản cuốn "Tại sao Việt Nam"
(Why Vietnam?) của A. Patti.
Cuốn sách được xuất bản tại Mỹ 10 năm trước đó (1985). Tác giả của cuốn
sách là người chỉ huy cao nhất của tổ chức tình báo chiến lược OSS (tiền
thân của CIA) đã có mặt ở Việt Nam khi Cách mạng tháng Tám 1945 vừa
thành công.
Nội dung cuốn sách là câu trả lời lấy từ tứ thơ của một bài ca cổ Ái Nhĩ
Lan về câu chuyện gã thuỷ thủ già nỡ bắn chết con chim báo bão. Con chim
báo bão chính là những ký ức lịch sử về một thời kỳ Mỹ và Hồ Chí Minh
https://thuviensach.vn
từng là đồng minh chống phát xít. Chim báo bão chết, tất nhiên con tàu của
gã thuỷ thủ già bị lạc vào giông bão.
Cũng năm ấy, đoàn các cựu chiến binh của nhóm OSS cộng tác với Hồ
Chí Minh đến thăm Hà Nội và gặp lại những người đồng minh từ nửa thế
kỷ trước. Tôi may mắn được tham dự và chứng kiến và chợt nhận ra rằng
trong lịch sử cuộc Cách mạng tháng Tám 1945, lực lượng nước ngoài duy
nhất đứng bên cạnh Hồ Chí Minh chỉ có… Hoa Kỳ! Năm 1997, tôi lại may
mắn được tháp tùng các cụ Việt Minh sang tận New York để gặp các cụ
OSS hàn huyên cho giới sử học nhiều nước cùng nghe để làm sâu sắc hơn
cái ký ức đã có thời bị quên lãng ấy. Nhiều nội dung các câu chuyện kể
được phản ánh trong cuốn sách này.
Có hẳn một đêm "trình diễn" tại Nhà châu Á" ở New York. Hai nhóm các
cụ OSS và Việt Minh gặp nhau cùng kể lại chuyện cũ cho một cử toạ, ngoài
quan khách của hai bên, số đông là những nhân viên CIA đến dự có phần vì
tò mò trước câu chuyện hợp tác giữa hai bên mà trong ký ức thế hệ của họ
chỉ thấy sự thù dịch trong một cuộc chiến vô cùng khốc liệt.
Cụ Charles Fenn là người cao tuổi nhất trong nhóm OSS, năm đó đã xấp
xỉ 90 đi cùng một cô bạn gái rất trẻ. Cụ ít nói, chỉ quan sát. Cụ là người đầu
tiên trong đơn vị gặp Hồ Chí Minh ; sau này cũng lại là người đầu tiên từ
nước Mỹ viết cuốn tiểu sử đầu tiên bằng Anh ngữ và bị trục xuất vì việc
làm ấy…
https://thuviensach.vn
Trước khi chia tay, Cụ gọi tôi và một anh bạn cùng đoàn chỉ để nói một
điều tâm đắc nhất: "Mỹ không có bạn, Mỹ chỉ có đồng minh. Cụ Hồ của
các bạn biết Mỹ nên hợp tác được với Mỹ". Tôi hỏi: Vậy thì Đồng minh là
thế nào? Cụ trả lời: Cùng có lợi!
Cũng trong hai năm 1995 và 1997 tôi lại may mắn có mặt trong cả hai
cuộc gặp giữa Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc Namarra và Đại tướng
Võ Nguyên Giáp đều diễn ra ở Hà Nội.
Cả hai lần ông khách Mỹ chỉ chốt vào một câu hỏi: "Liệu có cơ hội nào bị
bỏ lỡ hay không khiến hai quốc gia không thiết lập được sự hợp tác mà
quay sang đánh nhau?". Thì cũng cả hai lần vị lão tướng của chúng ta đưa
về một nguyên lý: "Việt Nam là nước nhỏ, chỉ mong hoà bình hợp tác với
thiên hạ. Chúng ta đã từng hợp tác cho đến khi chính lợi ích của nước lớn
đã khiến Mỹ chọn con đường khác".
Năm 1998. Tôi lại may mắn có mặt tại nhà riêng của Đại tướng Võ
Nguyên Giáp trong cuộc gặp con trai của cố Tổng thống Mỹ J.F. Kennedy.
Năm ấy, giữa hai người tuổi cách nhau tròn nửa thế kỷ, vị Đại tướng 88
tuổi nói với vị khách Mỹ 38 tuổi rằng: thế hệ các bạn chỉ biết lịch sử mối
quan hệ Việt-Mỹ là một cuộc chiến tranh tàn khốc và đầy thù hận kéo dài
30 năm, nhưng nên nhớ rằng trước đó đã có những trang sử của quan hệ tốt
đẹp và của tinh thần hợp tác. Tương lai các bạn trẻ cả hai nước phải viết
tiếp những trang sử tốt đẹp ấy.
https://thuviensach.vn
Đại tướng chỉ vào những tấm ảnh chụp cùng Bác Hồ tiếp các bạn Mỹ
trong những ngày Đất nước độc lập đầu tiên làm bằng chứng. Năm 2005.
Tôi lại may mắn được tháp tùng vị Thủ tướng Việt Nam đầu tiên đi thăm
nước Mỹ. Ở chặng đầu tiên, thành phố Seattle, có một người ra đón và tiếp
kiến đầu tiên Thủ tướng của chúng ta lại chính là một cựu chiến binh OSS
đã từng rất gần gũi với Bác Hồ. Đó là cụ Mac Shin người báo vụ viên được
OSS cử đi theo nhà lãnh đạo Việt Minh về chiến khu Việt Bắc sớm nhất.
Rồi ở chặng cuối, thành phố Boston, ông chủ tập đoàn LDG chủ trì cuộc
đón tiếp đã giương cao tấm bích chương vẽ cách cứu phi công Mỹ có in lá
cờ hoa và cờ đỏ sao vàng và nói lớn với cử toạ rằng: cách đây 60 năm
chúng ta đã từng hợp tác chống phát xít thì giờ đây tại sao chúng ta không
hợp tác để làm giàu cho hai quốc gia? Còn ông cựu thượng nghị sĩ
MacGovern nổi tiếng đại điện cử tri bang Massachusetts, đã từng ra tranh
cử tổng thống với R. Nixon thì phát biểu rằng sở đĩ cương lĩnh tranh cử của
ông là chống cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam bởi lẽ trong Đại chiến
thế giới lần thứ Hai ông là một phi công ném bom ở vùng Đông Nam Á.
Do vậy ông biết Hồ Chí Minh từng tổ chức cứu phi công Mỹ bị Nhật bắn
rơi, do vậy không thể làm một cuộc chiến tranh với những người như Hồ
Chí Minh. Ông nói thêm rằng, cuộc tranh cử ấy ông đã thất bại, nhưng giờ
đây lịch sử chứng minh rằng những cử tri của thành phố Boston và của
bang Massachusetts là những cử tri ưu tú nhất vì lịch sử chứng minh rằng
rốt cuộc hai dân tộc chúng ta đã hoà bình hợp tác với nhau.
Năm 2006. Tôi lại có may mắn tham gia vào thành phần Việt Nam trong
cuộc tiếp xúc giữa Quốc hội hai nước, nhân phái đoàn do Chủ tịch Hạ viện
https://thuviensach.vn
Mỹ sang thăm Hà Nội. Trong phát biểu chào mừng buổi sáng cũng như mở
đầu tiệc chiêu đãi buổi tối, ông Chủ tịch Quốc hội Việt giam nhắc lại một
lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1946 rằng: "Việt Nam chủ
trương hoàn toàn độc lập và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ", và khẳng định
rằng đó cũng là thông điệp của Việt Nam "ngày hôm nay". Và bữa tiệc
chiêu dãi này hiểu theo nghĩa nào đó đã được dọn sẵn từ 60 năm trước!…
Tất cả những gì chứa đựng trong những sự kiện trên có thể tìm thấy trong
cuốn sách đang có trên tay của các bạn - bản dịch "OSS và Hồ Chí Minh đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến chống phát xít Nhật". Đây là một công
trình nghiên cứu được coi là hoàn chỉnh nhất về lịch sử quan hệ Việt-Mỹ
trong thời kỳ đại chiến Thế giới lần thứ Hai, cũng là một thời đoạn quan
trọng trong tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lịch sử cuộc Cách mạng
tháng Tám 1945. lỉó sẽ rất bổ ích cho những ai.dang chứng kiến những tiến
triến quan trọng trong quan hệ Việt-Mỹ ngày hôm nay gắn liền với tiến
trình hội nhập và không ngừng Đổi mới của dân tộc Việt Nam.
7.2007
Dương Trung Quốc
DIXEE R. BARTHOLOMEW-FEIS
OSS VÀ HỒ CHÍ MINH
Dịch giả: Lê Lương Giang
Lời giới thiệu
https://thuviensach.vn
Những vụ nổ làm rung chuyển Trân Châu Cảng ngày 7 tháng 12 năm 1941
đã dẫn đến những thay đổi to lớn trên toàn thế giới. Cuộc tấn công của Nhật
Bản đã kéo nước Mỹ vào vòng chiến bên cạnh Anh, Liên Xô và Trung
quốc trong nỗ lực đánh bại thế lực quân sự Đức, Italia và Nhật Bản. Khi
chiến tranh lan rộng ra khắp các mặt trận châu Âu và Thái Bình Dương, rất
ít quốc gia tránh được sự tàn phá về kinh tế, quân sự chính trị và xã hội của
thảm hoạ này.
Chiến tranh cũng hoà giải các dân tộc và quốc gia có đường hoàng ít nhiều
đối nghịch nhau trong thời bình. Một mối quan hệ "bất ngờ" như vậy đã
xuất hiện giữa người Mỹ và người Việt Nam (lúc đó được biết đến với cái
tên An Nam hay Đông Dương). Người Việt Nam sống mòn mỏi dưới ách
thống trị thực dân nhiều thập kỷ ở Đông Nam Á như một phần Đông
Dương thuộc Pháp bao gồm Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào và
Campuchia.
Các mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ còn có nhiều thăng trầm, và cuối
cùng đẫn đến một cuộc chiến tranh khác gần 20 năm sau. Nhưng vào năm
1941, không có người Mỹ và người Việt Nam nào dự cảm dược tương lai
này. Trên thực tế, khi người Mỹ còn đang choáng váng vì cuộc tấn công
Trân Châu Cảng và mới chỉ bắt đầu sẵn sàng cho cuộc chiến lâu dài phía
trước, thì một số người Việt Nam đã phân tích việc nước Mỹ tham chiến có
thể có ý nghĩa đối với họ và với cuộc đấu tranh vì tự do, thoát khỏi ách thực
dân của họ: "Chúng ta phải ngăn ngừa ảo tưởng rằng Tưởng Giới Thạch và
quân Anh - Mỹ sẽ mang lại tự do cho chúng ta", Tổng bí thư Đảng cộng
sản Đông Dương Trường Chinh lên tiếng cảnh báo. "Trong cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc của chúng ta", ông nói tiếp, "rõ ràng chúng ta phải tìm
https://thuviensach.vn
kiếm các đồng minh - cho dù họ chỉ là nhất thời, dao động, hay có điều
kiện - nhưng cuộc đấu tranh này phải là thành quả của những nỗ lực của
chính chúng ta". Là một người cộng sản cứng rắn, hẳn ông sẽ hết sức ngạc
nhiên khi biết rằng một trong những nhà tư bản nổi bật nhất ở Mỹ, luật sư
triệu phú William J. Donovan, người sau đó đứng đầu một tổ chức sẽ đóng
vai trò quan trọng trong việc "giới thiệu" hai quốc gia, cũng đồng chia sẻ
triết lý tranh thủ các đồng minh.
Donovan, giám đốc Cơ quan Tình báo Chiến lược (OSS), một cơ quan thời
chiến trong quân đội Mỹ thực thi các chiến dịch tình báo và phản gián, còn
nhận ra sự cần thiết sử dụng đồng minh trên diện rộng - dù là "nhất thời,
dao động, hay có điều kiện". Mặc dù chính ông chống đối chủ nghĩa cộng
sản, nhưng trong suốt cuộc chiến, OSS của Donovan đã sát cánh cùng tổ
chức bí mật của những người cộng sản trên khắp châu Âu. "OSS không
phải là một tổ chức hoạch định chính sách, Donovan nhiều lần nhấn mạnh,
và với nước Nga là một đồng minh cùng tham chiến, nhiệm vụ của ông là
hợp tác trong mục tiêu chung - đánh bại phe Trục trong thời gian ngắn nhất
có thể!". Những suy xét tương tự được các đặc vụ của Donovan tuân thủ
triệt để khi hoạt động vời những người cộng sản ở châu Á, vì đôi khi họ là
những người hiểu rõ nhất tình hình chính trị và quân sự trong khu vực. Nói
một cách đơn giản, sứ mạng của OSS tại châu Á là nhằm đánh bại phát xít
Nhật và chấm dứt sự áp bức tàn bạo của Khối Thịnh vượng chung Đại
Đông Á. Và điều đó có nghĩa là, cần phải có sự hiện diện của tình báo quân
đội Mỹ tại Việt Nam lúc đó đang bị Nhật Bản chiếm đóng, một khu vực
nằm ngoài những quan tâm của Mỹ thời kỳ trước chiến tranh nhưng lại đặc
biệt quan trọng bởi nằm kề cả Trung Quốc và đảo quốc Nhật Bản.
Do đó các nhân viên OSS buộc phải tuyển mộ đặc tình, sau đó là các nhóm
vũ trang quân sự dưới sự bảo trợ của OSS rồi phái họ trở lại khu vực này.
https://thuviensach.vn
Vì vậy dường lối của hai dân tộc gặp nhau trong một thời khắc ngắn ngủi một thời khắc vừa nguy hiểm lại vừa đầy hứa hẹn đối với tương lai của cả
hai nước.
Trong ba năm tồn tại ngắn ngủi của mình, tổ chức OSS đã tham gia nhiều
chiến dịch và hoạt động tình báo bí mật, đã tuyển mộ cả nam lẫn nữ phù
hợp với những nhiệm vụ của nó. Edmond Taylor, một cựu thành viên của
OSS, đã bày tỏ quan điểm của mình về nhân tố căn bản đằng sau tổ chức
này: "Tôi nghĩ Donovan đã hy vọng chứng minh qua OSS rằng, như thường
lệ nguồn dự trữ chưa được khai thác của lòng dũng cảm của con người, tài
nguyên và tính năng động của ý chí cá nhân sẽ tạo thành tiền dề của chiến
thắng. Vì rằng, trong một thế giới ngày càng được cơ giới hoá, nhân cách
vẫn không chỉ là phẩm chất đạo đức mà còn là giá trị chiến lược". Có thể sự
có mặt của chính những con người như thế trên lãnh thổ Việt Nam khiến
cho tình thế mà họ đổi đầu trở nên quá phức tạp và, đôi khi quá nhiễu loạn
đối với họ. Vì những người Mỹ ấy không chỉ chứng kiến sự tàn bạo của
quân Nhật mà còn dối mặt với thực tế ảm đạm của chủ nghĩa thực dân Pháp
từ viễn cảnh Việt Nam.
Có thể thực tế này đã được tổng kết đầy đủ nhất trong một bài ca Việt Nam
nổi tiếng hồi những năm 30: "Đại hoạ thay vì quyền hành bị quân xâm lược
Pháp - những kẻ vốn có dã tâm tàn bạo, cướp đoạt. Vô sỉ thay khi bày mâm
ra người ta chẳng có gì để ăn ngoài rễ cây và lá; khốn khổ thay khi cầm đũa
lên rồi buông tiếng thở dài vì thiếu muối".
Sự mô tả điều kiện thảm khốc và tương lai ảm đạm của hầu hết nông dân ở
nông thôn Việt Nam này rõ ràng tố cáo người Pháp - "những kẻ xâm lược
man rợ". Thật vậy, hầu hết người Việt Nam nhận được quá ít nhưng lại đau
https://thuviensach.vn
khổ quá nhiều dưới ách thống trị thực dân 50 năm tính đến thời điểm đó.
Trong khi người Pháp tâng bốc những thành quả của sứ mạng khai hoá thì
tình cảnh của nông dân càng trở nên tồi tệ hơn.
Tuy nhiên, người Pháp, tầng lớp chóp bu người Việt và người Hoa - những
kẻ hợp tác với Pháp - được hưởng những thành quả lao động của người
nông dân. Những báo cáo của người Việt thời kỳ này như đất đỏ, hồi ký của
Trần Tử Bình có nhan đề Hồi ức của một người Việt Nam về cuộc sống tahi
đồn điền cao su thuộc địa và Trần Văn Mai Ai gây ra tội ác này? đã làm
sáng tỏ điều bài ca khẳng định rằng ách thống trị của Pháp rất hà khắc và
rằng trung nông chịu nhiều đau khổ dưới ách thực dân. Nếu là người Pháp
thì Nam Kỳ nói chung và Sài Gòn nói riêng thoả mãn hình ảnh ám chỉ danh
hiệu "Hòn ngọc Viễn Đông". Nhưng có rất ít người Việt Nam được đắm
mình trong vẻ đẹp lộng lẫy của hòn ngọc thuộc Pháp này.
Từ gốc rễ của nỗi thất vọng như vậy, các nhà lãnh đạo và phong trào đòi
độc lập Việt Nam nổi lên. Có rất nhiều đối thủ với đủ trào lưu tư tưởng
tranh đua lãnh đạo quần chúng bất mãn, kể cả những người theo chủ nghĩa
quân chủ thân thật, Việt Nam Quốc dân Đảng (VNQDĐ), các nhóm Mác
xít cách mạng, nổi bật nhất là Đảng Cộng sản Đông Dương (ICP) - chính
đảng nắm quyền điều khiển Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (còn gọi là
Việt Minh), và những nhóm Trotskit ít tiếng tăm hơn. Tất cả đều cố gắng
củng cố sức mạnh đối với quan điểm chống Pháp đang lan tràn khắp nổi.
Cuối cùng, sau khi loại bỏ Quốc dân Đảng và kết nạp nhiều đối thủ của
mình vào hàng ngũ Việt Minh, những người cộng sản đã chiếm ưu thế. Đến
năm 1945 Việt Minh bắt đầu thu hút được một số lượng thành viên lớn
chưa từng có và rõ ràng đã trở thành lực lượng nổi bật nhất trong các nhóm
người Việt đấu tranh giành chính quyền và độc lập. Lúc đó, Việt Minh chủ
yếu được nhìn nhận như phong trào chống thực dân, ủng hộ độc lập và có
https://thuviensach.vn
lẽ cả dân tộc chủ nghĩa chứ không như tổ chức cộng sản. Thực tế là lúc đó
có rất ít người Việt Nam hiểu chủ nghĩa cộng sản đại diện cho cái gì, nhưng
hầu hết đều đau đớn nhận thức được chủ nghĩa thực dân Pháp là gì trong
cuộc sống của họ.
Đến cuối năm 1945, Việt Minh dường như đã hiểu rõ hơn bất kỳ chính
đảng nào khác cách sử dụng khát vọng mãnh liệt của hầu hết người Việt
vào mục đích lật đổ ách thực dân của mình. Nhà sử học Huỳnh Kim Khánh
biện luận rằng bí quyết để Việt Minh đứng lên nắm quyền là "kỹ năng phân
tích tình thế cách mạng, tổ chức, tuyên truyền, và khả năng lãnh đạo không
nghi ngờ gì nữa, cực giỏi đối với tất cả, không có ngoại trừ các đảng phái
chính trị Việt Nam". Tuy nhiên, ông Khánh cũng chỉ ra rằng, "những kỹ
năng này đã không đem lại kết quả nếu không có thời cơ cách mạng thuận
lợi". Một trong số những người đầu tiên hiểu được "thời cơ cách mạng
thuận lợi" đến cuối chiến tranh sẽ nổi lên thành nhà lãnh đạo Việt Minh và
rồi cuối cùng trở thành người Việt Nam được đánh giá cao nhất trên thế
giới.
Sinh năm 1890 tại Nghệ An, một tỉnh có truyền thống cách mạng, phần lớn
thời trai trẻ Hồ Chí Minh bôn ba năm châu bốn biển, phải làm đủ nghề lặt
vặt và thử nghiệm một loạt triết lý chính trị. Ngay sau khi Chiến tranh thế
giới 1 kết thúc, ông, lúc đó có tên Nguyễn Ái Quốc, đi đến kết luận rằng
chủ nghĩa cộng sản đã đưa ra những luận cứ rõ ràng nhất chống lại chế độ
thuộc địa và một viễn cảnh sáng sủa nhất cho công cuộc thống nhất và điều
hành một nước Việt Nam độc lập. Là một nhà văn có bút lực đầy thuyết
phục và là một nhà ái quốc mạnh mẽ, ông đã sống phần lớn những năm đầu
của cuộc đời hoạt động ở nước ngoài và đã trở về việt Nam thời kỳ đầu
Chiến tranh thế giới 2 - thời điểm thích hợp nhất trong lịch sử Việt Nam.
https://thuviensach.vn
Chiến tranh thế giới 2 đã gắn kết nhiều tầng lớp xã hội, tạo ra thời cơ vàng
cho Hồ Chí Minh và Việt Minh. Năm năm chiếm đóng Hòn ngọc Viễn
Đông thuộc Pháp của Nhật Bản đã làm cho cảnh bần cùng của đại bộ phận
người dân Việt Nam trở nên tồi tệ hơn, và cơ bản làm suy yếu vị thế của
Pháp trong mắt của cả những kẻ thực dân bị quản chế và Đồng Minh.
Ngoài khả năng bảo vệ lập trường chống thực dân, Việt Minh còn có thể
yêu cầu hợp tác với Đồng Minh trong cuộc chiến chống Nhật Bản. Mặc dù
các hoạt động chống Nhật của Việt Minh chỉ nhỉnh hơn hoạt động quấy rối
đối với quân đội Thiên Hoàng, nhưng lại có tác dụng tuyên truyền tuyệt vời
đối với phong trào. Hơn nữa, Việt Minh đã hưởng nhiều thuận lợi từ cuộc
đảo chính của quân Nhật diễn ra vào tháng 3 năm 1945, cuộc đảo chính đã
chấm dứt một cách hiệu quả ách thực dân Pháp trong một thời gian ngắn,
sau đó là thất bại của Nhật, tạo ra một khoảng trống quyền lực mà Hồ Chí
Minh và Việt Minh tiến vào.
Các binh sĩ Mỹ thuộc lực lượng OSS cũng gặp phải, (đôi khi theo đúng
nghĩa đen), tình huống chiến tranh này. Như một phần sứ mạng của họ,
những người được chọn vào OSS thường hoạt động bí mật với nhiều nhóm
kháng chiến ở châu Âu và Thái Bình Dương. Trong Chiến tranh thế giới 2,
quyết định hoạt động với nhiều nhóm như vậy đã bị nghi ngờ. Đặc biệt là
sự cộng tác ngắn ngủi giữa OSS và Việt Minh đã trở thành chủ đề tranh
luận lớn, nhất là sau sự dính líu không thích hợp của Mỹ vào Việt Nam từ
năm 1965 đến 1975. Những bất đồng về việc liệu Hồ Chí Minh có trở thành
một "Tito châu Á" hay đứng về phe Liên Xô hay không đã thu hút sự chú ý
của nhiều học giả. Những ý kiến tranh luận này thậm chí đã xuất hiện trong
các thành viên OSS, những người biết Hồ Chí Minh từ những năm 1940.
Một cựu đặc vụ của OSS cho rằng Hồ Chí Minh "hoàn toàn cứng rắn". Ông
https://thuviensach.vn
ta bổ sung thêm, "Tôi không tin rằng có cách thức nào đó để bàn bạc với
ông ấy". Một người khác lại mô tả tình hình có phần hơi khác:
"Bạn phải xét đoán ai đó trên cơ sở những gì người đó muốn. Hồ Chí Minh
không thể là người Pháp, và ông biết ông có thể chống Pháp trong những
giới hạn của mình. Ông e ngại Trung Hoa và ông không thể bàn bạc với họ
bởi họ sẽ đòi cho đủ mới thôi. Quá xa xôi, Moskva thích hợp cho việc phá
cầu nhưng lại không thật thích hợp để xây chúng lại. Nếu không có chiên
tranh, tất nhiên Hồ Chí Miịnh không thể có cơ hội chống lại thực dân
Pháp. Nhưng lúc này ông đã lên yên cho dù không rõ con ngựa ông đang
cưỡi là gì. Lúc đó chắc chắn ông đang giúp chúng ta. Chùng ta và người
Pháp có thể giúp ông trong tương lai. Tôi nghĩ ông đã sẵn sàng giữ thái độ
thân thương Tây".
Tuy nhiên nếu quả thực trong những năm cuối chiến tranh các thành viên
OSS ở Việt Nam hiểu hết vấn đề thì họ đã thấy những ý kiến như vậy hầu
hết đều không ăn nhập. Giống như các cơ quan thời chiến, OSS quan tâm
đến việc giành thắng lợi và tìm kiếm đồng minh trợ giúp cho sứ mạng đó bao gồm những người cộng sản và các nhóm dân tộc chủ nghĩa bản xứ đủ
loại thành phần còn ít được biết đến. Và cho dù giám đốc OSS và nhà lãnh
đạo Việt Minh không thể gặp nhau thì một số điểm tương đồng giữa hai
người và những triết lý của họ đã khai sáng mối quan hệ giữa các thuộc cấp
của William Donovan và Hồ Chí Minh.
Giống như Donovan, Hồ Chí Minh tin giá trị nội tại của "những nguồn dự
trữ lòng can đảm của con người cùng tài nguyên chưa được khai thác", và
tầm quan trọng của phẩm giá con người là yếu tố chiến lược giành thắng
lời. Cả hai ông đã nhận ra tài năng, trí tuệ và phẩm chất khó diễn tả nhưng
https://thuviensach.vn
cần thiết mà nhà sử học Robin Winks gọi là "phẩm chất tiên quyết, ở những
người khác. Hai ông cũng hiểu cần phải uỷ quyền cho những người có
"phẩm chất tiên quyết" để thúc đẩy trao đổi, cho dù là để mở rộng sự tham
gia vào Việt Minh và giải phóng Việt Nam khỏi ách cai trị của Pháp hay,
trong trường hợp của Mỹ, để thu thập trên diện rộng tin tức tình báo cho
việc đánh bại Nhật Bản và giải phóng các dân tộc dang sống dưới ách
chiếm đóng tàn bạo của chúng.
Thoạt tiên, cả Hồ Chí Minh và Donovan tuyển mộ một số lượng lớn các
học giả vào tổ chức của mình, đặc biệt là Hồ Chí Minh trong việc thành lập
Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội giữa những năm 1920 và Donovan
trong Ban nghiên cứu và phân tích quan trọng bậc nhất của OSS. Theo
dòng thời gian, tổ chức của cả hai ông đều mở rộng, thu hút một lượng lớn
thành viên thuộc mọi tầng lớp xã hội.
Bất chấp những thành tựu giáo dục nhân viên đặc vụ, cả Hồ Chí Minh và
Donovan đều tin tưởng cao độ vào cộng sự cũng như vào chính bản thân
mình, bởi tin rằng những người chiến đấu sát cánh bên họ phải "can đảm,
dũng cảm và kiên trì", và phải đặt nhu cầu của họ phụ thuộc vào đòi hỏi của
đại nghĩa. Đối mặt với những tiêu chuẩn cao như vậy, hên cho cả Việt Minh
và OSS là thủ lĩnh của họ may mắn có những phẩm chất thu hút quần
chúng - cái làm cho họ trở nên nổi tiếng. Cả hai được xem là những người
lịch thiệp và khó bị chọc giận, có sức thuyết phục và có đầu óc cởi mở, và
trên hết không thể phủ nhận họ có tinh thần ái quốc cùng quyết tâm sắt đá
phụng sừ những nhu cầu cơ bản của dết nước mình. Và không nghi ngờ gì
nữa, Hồ Chí Minh hẳn đã đồng ý với tuyên bố của Donovan vào năm 1941
rằng "Có một sức mạnh tinh thần trong chiến tranh, rằng về lâu về dài nó sẽ
mạnh hơn bất kỳ cỗ máy nào". Hồ Chí Minh mong đợi chiến thắng cuối
cùng - giành độc lập từ tay Pháp - trong khi Donovan quan tâm đến mục
https://thuviensach.vn
tiêu nhanh chóng đánh bại phe Trục hơn. Nhưng cả hai ông đều tin rằng họ
tiến hành một cuộc chiến hợp đạo lý và chính nghĩa và rằng cuối cùng họ
sẽ chiến thắng.
Tất nhiên, người của Donovan tin họ đang tham gia vào một cuộc chiến
chính nghĩa để giải phóng thế giới khỏi móng vuốt của phát xít Đức và
quân phiệt Nhật. Nhưng chiến tranh kết thúc phần lớn họ thường muốn về
nhà. Tuy nhiên, với các đặc tình của OSS ở Đông Dương thuộc Pháp,
nhiệm vụ của họ vẫn chưa kết thúc ngay cả sau khi Nhật thất trận: họ còn
phải chuẩn bị cho sự đầu hàng chính thức và hồi hương của quân Nhật và
truy lùng những tội phạm chiến tranh. Để thực hiện những mục tiêu của
mình, quân Mỹ trên bộ cần phải hợp tác với người Việt Nam, người Pháp,
Anh và Trung Quốc; và họ thấy sứ mạng của mình bị cản trở nghiêm trọng
bởi những mục đích và lý tường thường trái ngược của các phe nhóm.
Hơn nữa, có lẽ nghĩ rằng mình không thiên vị, nhiều người Mỹ trẻ tuổi đã
dốc lòng cho chủ nghĩa lý tưởng dẫn họ đến kết luận, đặc biệt là sau khi đã
chứng kiến điều kiện sống ở Việt Nam, rằng chủ nghĩa thực dân Pháp cũng
nên bị cáo chung cùng cuộc chiến. Nhiều thành viên OSS tin họ đang hành
động theo ước nguyện của Tổng thống Franklin Roosevelt
 





